- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn B cùng các đồng phạm - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1, giữ nguyên Quyết ịnh về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 04-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 505/2022/HS-PT Ngày: 12-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trương Công Thi
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Thanh Liêm
Ông Nguyễn Tấn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 161/2022/TLPT-HS ngày 09-5-2022 ối v i ị cáo Phan Văn B cùng các ồng phạm ị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của các ị cáo ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HSST ngày 04-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Phan Văn B, sinh ngày 01/01/1976 tại thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình ộ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan T, sinh năm 1948 và à Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; vợ: Tôn Nữ Thùy U, sinh năm 1981; con: Phan Văn Hoài A, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân:
+ Ngày 16/7/1999, ị TAND quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Ngày 07/10/2003, ị Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng quyết ịnh ưa vào Trung tâm giáo dục dạy nghề 06-06 thành phố Đà Nẵng.
+ Ngày 19/02/2009, ị TAND quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 05/8/2016, ị Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 ồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
+ Ngày 25/9/2020, ị TAND quận C, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ngày 02/02/2020, ị Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ắt giữ về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, hiện ang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Kim H (tên gọi khác: C), sinh ngày 09/5/1990 tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình ộ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Kim H, sinh năm 1959 và à Trần Thị S, sinh năm 1964; vợ: Trần Thị Hiền T, sinh năm 1987, con: Lê Kim Hoàng Y, sinh năm 2014 và Lê Kim Hoàng G, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: 01 tiền sự.
Quá trình nhân thân:
+ Ngày 22/3/2017, ị Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 ồng về hành vi ánh ạc.
+ Ngày 07/2/2018, ị Công an phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.000.000 ồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa chấp hành nộp phạt).
Ngày 02/02/2020, ị Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ắt giữ về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, hiện ang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Phạm Đăng H1, sinh ngày 20/4/1981 tại tỉnh B Thuận; nơi cư trú: tỉnh B Thuận; nghề nghiệp: Lái xe; trình ộ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1959 ( ã chết) và à Cao Thị H, sinh năm 1958; vợ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1982, con: Phạm Đăng H, sinh năm 2005 và Phạm Đăng H, sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không.
Quá trình nhân thân:
+ Ngày 21/6/2012, ị TAND quận T (nay là thành phố Thủ Đức) Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
+ Ngày 26/9/2016, ị TAND huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Ngày 02/02/2020, ị Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ắt giữ về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, hiện ang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn B:
Ông Đỗ Thành N và ông Ông Quốc C - Luật sư của Văn phòng luật sư X, thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng, ông N có mặt, ông C có gửi Bản luận cứ ào chữa cho ị cáo và xin vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Kim H:
1. Bà Nguyễn Thị H - Luật sư của Công ty luật TNHH MTV C, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
2. Ông Dương Văn P - Luật sư của Công ty luật TNHH MTV X - Chi nhánh Thừa Thiên Huế, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đăng H1:
Ông Hoàng Quốc H - Luật sư của Công ty Luật B, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Chị Trần Thị Hiền T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
2. Ông Đặng Ngọc B, sinh năm 1975 và à Võ Thị P, sinh năm 1979. Nơi cư trú: quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
3. Chị Tôn Nữ Thùy U, sinh năm 1981. Nơi cư trú: quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
4. Chị Trương Thị V, sinh năm 1977. Nơi cư trú: tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án hình sự sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 35 phút ngày 02/02/2020, tại ường Quốc lộ 1A, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, Phòng Cảnh sát iều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp v i Đoàn ặc nhiệm 2, 3 thuộc Cục Phòng chống ma túy về tội phạm Bộ ội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên Huế phát hiện Phan Văn B và Lê Kim H i trên xe ô tô, iển số kiểm soát 43A-124.97 do H iều khiển chạy theo hư ng Huế - Đà Nẵng, ang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Khi cơ quan chức năng tiến hành chặn xe ể ắt giữ thì H không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà nhấn ga, tăng vận tốc xe ô tô ỏ chạy, lúc xe chạy ến ngã a giao nhau giữa ường Quốc lộ 1A và ường ầm Lập An (thuộc tổ dân phố L, thị trấn L) thì B vứt một túi xách màu nâu ra khỏi xe ô tô rồi tiếp tục cùng H quay xe ỏ chạy trên Quốc lộ 1A theo hư ng Đà Nẵng - Huế. Xe ô tô do H iều khiển chạy ến Km 883 thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế thì B và H ị bắt giữ. Cơ quan chức năng ã thu giữ 01 xe ô tô iển kiểm soát 43A-124.97 do H iều khiển; một túi xách màu nâu do B ném từ trong xe ra, ên trong có 14 ánh dạng hình khối chữ nhật nghi là ma túy, có khối lượng là 4.907,356 gam và nhiều vật dụng khác, trư c ó, tại Trạm thu phí phía Bắc hầm H thuộc huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, cơ quan Cảnh sát iều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế cũng ã tiến hành ắt giữ khẩn cấp ối v i Phạm Đăng H1 và tạm giữ xe ô tô iển kiểm soát 34A-260.92, do H1 có hành vi cùng vận chuyển trái phép chất ma túy v i Phan Văn B.
Quá trình iều tra các ị cáo khai nhận: B có quen iết v i ối tượng có tên là “Chồn Cầy” (không xác định được nhân thân, lai lịch) qua ạn è ngoài xã hội nên trư c ó B ã nhận lời tham gia vận chuyển ma túy cho “Chồn Cầy” ể lấy tiền công. Ngày 01/02/2020, “Chồn Cầy” ở Hà Tĩnh iện thoại nói v i B ra Hà Tĩnh nhận ma túy em vào Thành phố Hồ Chí Minh giao cho ối tượng người Tàu ể ược trả công 100.000.000 ồng, B ồng ý. Trưa cùng ngày B iện thoại nói Lê Kim H thuê xe ô tô ể chở B i, B sẽ trả công cho H (trước đó H đã nhiều lần chở B đi lại trong thành phố Đà Nẵng). Sau ó, B iện thoại cho Phạm Đăng H1 hỏi ang ở âu và H1 trả lời mình ang ở thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, nghe vậy B nói H1 chờ ở ó ể chở B i Hà Tĩnh. Khoảng 23 giờ cùng ngày, B nói H chở B từ Đà Nẵng ra L ể H1 chở B i Hà Tĩnh, B mang theo một túi xách màu nâu, ên trong có 01 áo khoác Jean và các vật dụng khác. H chở B chạy từ Đà Nẵng qua hầm èo H thì gặp H1 ang ậu xe trên ường, B xuống xe ưa H số tiền 2.000.000 ồng và dặn khi nào cần thì B sẽ gọi H i chở. Sau ó, lên xe ô tô iển kiểm soát 34A-260.92 do H1 iều khiển i ra Hà Tĩnh. Đi trên ường B liên lạc v i “Chồn Cầy” thì ược hư ng dẫn cứ chạy ến ịa phận Hà Tĩnh có trạm thu phí cũ sẽ có người ến ón. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 02/02/2020 tại ường tránh thành phố Hà Tĩnh, B gặp ược người do “Chồn Cầy” cử ến ón nên lên xe ô tô, hiệu Mazda màu ỏ do một thanh niên iều khiển (không xác định được biển số xe và nhân thân lại lịch người này) chở lên ường Hồ Chí Minh gặp “Chồn Cầy”. Khoảng sau một giờ xe chạy B gặp “Chồn Cầy” ang ngồi trên ca-bin xe tải, ang ậu ven ường cùng v i 02 người khác (không xác định được biển số xe và nhân thân lại lịch 02 người này), B ưa chiếc áo khoác Jean cùng túi xách của mình cho “Chồn Cầy” ể ỏ các ánh heroine vào, B xé ăng keo cùng v i “Chồn Cầy” quấn các ánh heroine lại ỏ vào áo khoác Jean ể ỏ vào túi xách, “Chồn Cầy” ưa túi xách cho B và dặn mang túi xách chứa ma túy vào cầu chữ Y ở Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giao cho một người Tàu, về thông tin người nhận thì “Chồn Cầy” cho iết sau, ồng thời ưa trư c cho B 1.000 USD ( ô la Mỹ) ể trả công, số tiền còn lại khi B giao ma túy xong sẽ có người ưa ủ 100.000.000 ồng. Sau ó, B gọi cho H1 hỏi ang ở âu thì H1 nói v i B mình ang ăn sáng ở ường tránh thành phố Hà Tĩnh, B nói H1 ợi B ở ó ể chở về Đà Nẵng sẽ trả thêm tiền xe cho H1 là 3.000.000 ồng. Trên ường i B gọi H, ảo H ra Quảng Trị ể chở B về. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, tại cây xăng dầu T thuộc huyện T, tỉnh Quảng Trị, B xuống xe của H1 mang theo túi xách chứa ma túy lên xe của H tiếp tục i vào Đà Nẵng. Trên ường i B gọi iện cho H1 dặn chạy trư c nếu gặp Cảnh sát thì áo ể B xử lý, vì ang ôm miếng hàng (tức ma túy) rồi B sẽ trả thêm tiền cho H1. Trên ường vào Đà Nẵng, H1 ã nhiều lần gọi iện áo cho B iết việc có hay không có Công an tại các chốt giao thông.
Khoảng 13 giờ 35 phút cùng ngày, khi xe H lái chở B ến ịa phận thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì ị lực lượng chức năng phát hiện, truy ắt. Phát hiện có người truy ắt B nói H tăng ga ô tô chạy thật nhanh do B ang ôm “hàng nóng” (tức là ma túy) nếu dừng lại cả hai sẽ chết, nên H ã tăng vận tốc xe ô tô ỏ chạy, khi chạy ến ngã a ầm L và ường Quốc lộ 1A thì H nói “đôi hàng đi anh ơi, em sợ quá, đôi đi rồi em chạy tiếp” nên B hạ kính xe ô tô, vứt túi xách chứa ma túy ra ên ngoài, H lái xe tăng ga tiếp tục ỏ chạy trở ra theo hư ng Đà Nẵng – Huế, khi ến ịa phận xã L thì ị ắt giữ. Riêng xe ô tô iển kiểm soát 34A-260.92 do H1 iều khiển chạy trư c dò ường thì ị các lực lượng chức năng ắt giữ tại trạm thu phí phía Bắc hầm èo H lúc 13 giờ 35 phút ngày 02/02/2020.
* Về hiện trường vụ án:
- Hiện trường thứ nhất vụ án ược xác ịnh là vị trí xe ô tô, iển kiểm soát 43A-124.97 ang ỗ trên làn ường Đà Nẵng - Huế trên Quốc lộ 1A, oạn thuộc thôn Phú Gia, xã L, huyện P, Thừa Thiên Huế (xe do Lê Kim H điều khiển, trên xe chở Phan Văn B). Xe ô tô ang ở tư thế ỗ, ầu xe hư ng Huế, uôi xe hư ng Đà Nẵng, trục trư c ên phải cách cột mốc ký hiệu H2/883 (cột mốc sát lề Quốc lộ 1A) 9,4 mét; trục trư c ên trái xe cách giải phân cách 0,4 mét; trục sau ên trái cách giải phân cách 01 mét.
Sau khi phát hiện, truy uổi, chặn xe kiểm tra Cơ quan iều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ã thu giữ: xe ô tô gắn iển kiểm soát 43A-124.97, phần ầu xe và uôi xe ị hư hỏng, cửa kính ị vở. Tiến hành việc khám xét khẩn cấp phương tiện, ã thu giữ gồm: 02 vé thu phí dịch vụ sử dụng ường ộ của trạm thu phí Phú Bài, 02 vé thu phí sử dụng dịch vụ ường ộ trạm thu phí Bắc hầm H; 01 vé thu phí dịch vụ sử dụng ường ộ trạm thu phí Km 763+800, QL1A; 01 phểu thủy tinh ược gắn v i 01 nắp nhựa; 01 iện thoại di ộng hiệu Nokia Imel 1 357723103729204, Imel 2 357723105729202; 01 iện thoại di ộng Nokia, Imel 1 357721109074906, Inel 2 357748100074908; 01 giấy chứng nhận kiểm ịnh và 01 giấy ảo hiểm ô tô 43A-124.97; 01 giấy chứng nhận ăng ký phương tiện giao thông ( ản chính).
- Hiện trường thứ hai vụ án ược xác ịnh là vị trí tại ngã a ầm Lập An, giao nhau giữa Quốc lộ 1A và ường Nguyễn Văn, thuộc thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hư ng Huế - Đà Nẵng trên Quốc lộ 1A, nhận thấy: tại vị trí số 1 phát hiện 01 túi xách vải, quai màu nâu, trên túi xách có chữ “TTH – TO HUYHOANG COLLECTION”, kích thư c 59cm x 24cm x 19cm. Túi xách nằm ở mép ường ên phải của Quốc lộ 1A, cách ầu dải phân cách tại Km 890 + 200 Quốc lộ 1A là 13,5 mét về phía Huế; cách cột iện số T50A - 10 - 5C là 20 mét về phía ầm Lập An.
Tiến hành mở ên trong túi xách phát hiện: 01 iện thoại Nokia màu en; 01 iện thoại BAVAPEN màu en; mảnh giấy ạc, kích thư c 11cm x 8cm; 01 iện thoại hiệu Mastel màu ỏ; 01 sạc dự phòng hiệu e.VALU màu en; 01 chai thủy tinh màu nâu, phía trên nắp nhựa có gắn ống nhựa và ống hút, trên chai ghi chữ Won- sam –D; 01 túi ny long ựng tăm ông; 01 hộp giấy hiệu ASA; 01 túi ny long kích thư c 22cm x 15cm; 07 gói ược ọc giấy ạc, kích thư c 15,5cm x 10,5cm x 4,5cm (có cùng kích thước) ược ựng trong áo Jean xanh; 01 giấy phép lái xe hạng B2, ghi họ tên Phan Hải (sinh ngày 09/7/1994; ĐKTT: phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng).
* Về phần giám ịnh chất ma túy:
Ngày 02/02/2020, Cơ quan cảnh sát iều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ra Quyết ịnh trưng cầu giám ịnh số 07/CSMT nội dung yêu cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế giám ịnh một gói niêm phong kín ằng túi ni lông, giấy trắng và ăng keo, ên trong gói niêm phong có 07 gói giấy ạc ều có kích thư c 15,5cm x 10,5cm x 4,6cm, ên ngoài ược dán 06 oạn ăng keo trong. Bên trong mỗi gói giấy ạc ều có 02 ánh hình chữ nhật, mỗi ánh hình khối chữ nhật ều chứa chất ột khô màu trắng và có cùng kích thư c 15,5cm x 10,5cm x 2,25cm ược ọc kín ằng 01 túi ni lông trong, 01 túi ni lông màu xanh rêu, 01 l p giấy màu nâu, 01 túi ni lông màu vàng và 03 túi ni lông có dán ăng keo thu giữ tại hiện trường trong quá trình truy ắt Phan Văn B và Lê Kim H. Được niêm phong ên ngoài có chữ ký ghi họ tên Phan Văn B, Lê Kim H, Đỗ Trí, Trần Tuấn Anh và dấu tròn ỏ của Công an thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lập iên ản niêm phong và giao nhận ối tượng giám ịnh, các ối tượng cần giám ịnh ược Giám ịnh viên ký hiệu mỗi ánh hình chữ nhật có cùng kích thư c 15,5cm x 10,5cm x 2,25cm lần lượt là 1.1; 1.2; 2.1; 2.2; 3.1; 3.2; 4.1, 4.2; 5.1; 5.2; 6.1; 6.2; 7.1 và 7.2 có phải là chất ma tuy không? Tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy, tiền chất gì? Khối lượng mẫu gửi giám ịnh là ao nhiêu?
Ngày 05/02/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ã có ản Kết luận iều tra giám ịnh số 61/GĐ, kết luận:
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 1.1) có khối lượng là 350,9476g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 1.2) có khối lượng là 350,9438g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 2.1) có khối lượng là | 350,9097g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 2.2) có khối lượng là 350,9192g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 3.1) có khối lượng là 351,8514g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 3.2) có khối lượng là 351,8374g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 4.1) có khối lượng là " 348,9975g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 4.2) có khối lượng là 348,0062g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định kỳ hiệu 5.1) có khối lượng là 345,6936g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 5.2) có khối lượng là 350,6876g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 6.1) có khối lượng là 351,2288g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 6.2) có khối lượng là 352,1871g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 7.1) có khối lượng là 351,5793g, là ma túy, loại Heroine.
+ Chất bột khô màu trắng gửi giám định (ký hiệu 7.2) có khối lượng là 351,5668g, là ma túy, loại Heroine.
* Về giám ịnh ường vân:
Ngày 02/02/2020, Cơ quan cảnh sát iều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ra Quyết ịnh trưng cầu giám ịnh số 08/CSMT nội dung yêu cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế giám ịnh ường vân trên các mẫu vật Cơ quan iều tra ã thu giữ trong quá trình khám xét, ắt giữ Phan Văn B, Lê Kim H.
Ngày 11/02/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ã có ản Kết luận giám ịnh số 62/GĐ, kết luận:
Xử lý trên 121 mẫu vật thu giữ trong quá trình khám xét bắt giữ phát hiện 13 dấu vết đường vân đánh số thứ tự từ 01 đến 13, trong đó: dấu vết số 1 trên đoạn băng keo kích thước 58cm x 4,5cm; dấu vết số 2 trên đoạn băng keo kích thước 55cm x 4,5cm; dấu vết số 3 và 4 trên đoạn băng keo kích thước 39cm x 4,5cm; dấu vết số 5 trên túi ni lông tại mẫu ký hiệu 4.1; dấu vết số 6 trên túi ni lông trong tại mẫu ký hiệu 4.2; dấu vết số 7 và 8 trên túi ni lông trong tại mẫu ký hiệu 6.1; dấu vết số 9 trên túi ni long trong tại mẫu ký hiệu 6.2; dấu vết số 10 trên túi ni lông trong tại mẫu ký hiệu 2.2; dấu vết số 11 trên túi ni lông trong tại mẫu ký hiệu 2.1; dấu vết số 12 trên túi ni lông tại mẫu ký hiệu 1.1; dấu vết số 13 trên túi ni lông trong tại mẫu ký hiệu 3.1.
Trong 13 dấu vết đường vân phát hiện được, 11 dấu vết đường vân số 1, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 đủ yếu tố giám định; dấu vết đường vân số 3 với đường vân trên chỉ bản ghi họ tên Phan Văn B do cùng một người in ra; 10 dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định đánh số 1, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 với đường vân trên 03 chỉ bản so sánh (của Phan Văn B, Lê Kim H, Phạm Đăng H1) không cùng một người in ra.
* Về giám ịnh AND:
Ngày 12/02/2020, Cơ quan cảnh sát iều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ra Quyết ịnh trưng cầu giám ịnh số 16/CSMT nội dung yêu cầu Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám ịnh ADN trên các mẫu vật Cơ quan iều tra ã thu giữ: 01 áo khoác Jean màu xanh (ký hiệu M1); 01 túi xách màu nâu (ký hiệu M2); 01 giấy phép lái xe số 480176003012 ghi tên Phan Hải (ký hiệu M3) có AND của Phan Văn B, Lê Kim H, Phạm Đăng H1 không.
Ngày 09/3/2020, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng ã có ản kết luận giám ịnh số 153/C09C(Đ5), kết luận:
Trên áo khoác có AND của Phan Văn B không có AND của Lê Kim H và Phạm Đăng H1;
Trên túi xách và trên giấy phép lái xe có AND người nhưng do dấu vết kém nên không truy nguyên được người để lại dấu vết AND.
* Về phần vật chứng của vụ án:
Toàn ộ tang vật, tài sản Cơ quan iều tra ã thu giữ khi khám nghiệm hiện trường cũng như của các ối tượng trong vụ án, gồm:
- Thu giữ, tạm giữ của Phan Văn B: 4.907,356 gam Heroine và các vật dụng ể ao gói; 01 túi xách màu nâu, 01 áo khoác Jean màu xanh; 19.700.000 ồng (tiền Việt Nam đồng) và 600 USD (đô la Mỹ); 05 iện thoại di ộng (gồm 03 hiệu Nokia, 01 hiệu BAVAPEN, 01 hiệu Mastel) và 01 cục sạc dự phòng hiệu e. VALU; 01 giấy phép lái xe mang tên Phan Hải; 01 chai thủy tinh phía trên có gắn nắp nhựa và ống hút; 01 túi ni lông hiệu lovely, 01 giấy hiệu Sihiron, 01 hộp giấy phía trên có chữ ASA, 01 túi ni lông và 01 miếng giấy ạc.
- Thu giữ, tạm giữ của Lê Kim H: 01 xe ô tô iển kiểm soát 43A-124.97 và các giấy tờ liên quan; 01 giấy phép lái xe số 480196004813 mang tên Lê Kim H; 01 ví da cá nhân; 1.660.000 ồng (tiền Việt Nam đồng); 06 vé thu phí dịch vụ sử dụng ường ộ; 01 iện thoại di ộng hiệu Sony; 01 ống (phểu) thủy tinh có gắn nắp nhựa màu trắng.
- Thu giữ, tạm giữ của Phạm Đăng H1: 01 xe ô tô iển kiểm soát 34A -260.92; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Đăng H1; 01 giấy chứng nhận ăng ký xe ô tô mang tên Trương Thị Vinh; 01 giấy chứng nhận kiểm ịnh và 01 giấy chứng nhận ảo hiểm ắt uộc trách nhiệm dấn sự của chủ xe ô tô iển kiểm soát 34A-260.92; 1.600.000 ồng (tiền Việt Nam đồng); 01 iện thoại di ộng hiệu OPPO; 01 vé thu phí dịch vụ sử dụng ường ộ.
Từ những nội dung ã ược xác ịnh nêu trên,
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 04-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:
Căn cứ iểm khoản 4 Điều 250; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự ối v i cả 03 ị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1.
- Xử phạt: ị cáo Phan Văn B hình phạt: Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày ắt tạm giam 02/02/2020.
- Xử phạt: ị cáo Lê Kim H hình phạt: Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày ắt tạm giam 02/02/2020.
- Xử phạt: ị cáo Phạm Đăng H1 hình phạt: Tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày ắt tạm giam 02/02/2020.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, cả 03 ị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1 ều có ơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm các ị cáo ều giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia giữ quyền công tố và kiểm sát hoạt ộng xét xử tại phiên toà phúc thẩm phát iểu quan iểm ối v i vụ án như sau:
- Về tố tụng: Hội ồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng ã thực hiện và tuân thủ úng các quy ịnh của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên ề nghị Hội ồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm ối v i cả 03 ị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1.
- Những người bào chữa cho bị cáo Phan Văn B trình bày: Cho rằng việc iều tra vụ án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, kết quả giám ịnh chất ma túy là của một vụ án khác, tại út lục số 52 Điều tra viên và Thủ kho Phòng Cảnh sát THAHS& HTTP Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ã giao nhận vật chứng của một vụ án khác và số lượng mẫu vật gửi giám ịnh có chênh nhau về số lượng, do vậy ề nghị hủy Bản án sơ thẩm, trả hồ sơ về lại Cơ quan iều tra ể làm rõ.
- Những người bào chữa cho bị cáo Lê Kim H trình bày: Đề nghị Hội ồng xét xử xem xét vai trò ồng phạm của ị cáo trong vụ án, giúp sức tích cực cho ị cáo B là không úng, ị cáo phạm tội chưa ạt, Bản án sơ thẩm xác ịnh ị cáo có tiền sự là không úng và cho ị cáo ược hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Gia ình ị cáo có ông nội là người có công v i cách mạng, có cô ruột là Liệt sĩ quy ịnh tại iểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Nên ề nghị áp dung quy ịnh tại Điều 54 Bộ luật hình sự ể xử phạt ị cáo dư i mức thấp nhất của khung hình phạt và cho ị cáo ược hưởng hình phạt tù có thời hạn.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đăng H1 trình bày: Đề nghị Hội ồng xét xử xem xét cho vai trò của ị cáo trong vụ án và cho ị cáo ược hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Bị cáo có trình ộ học vấn thấp, là lao ộng chính trong gia ình, có thời gian tham gia quân ngũ, ề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Nên ề nghị áp dung quy ịnh tại Điều 54 Bộ luật hình sự ể xử phạt ị cáo dư i mức thấp nhất của khung hình phạt và cho ị cáo ược hưởng hình phạt tù có thời hạn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ồng xét xử nhận ịnh như sau:
Về hành vi, quyết ịnh tố tụng của Cơ quan iều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình thực hiện iều tra, truy tố ã thực hiện úng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy ịnh của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm xem xét ý kiến của những người ào chữa cho ị cáo Phan Văn B có quan iểm cho rằng việc giao nhận vật chứng trong vụ án có sai sót, dẫn ến việc iều tra vụ án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ề nghị hủy Bản án sơ thẩm. Xét thấy, xem xét các iên ản, tài liệu từ các Biên ản ắt giữ người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong, giao nhận, ảo quản vật chứng và giám ịnh ối v i vụ án (từ út lục số 19 ến út lục số 70) là của vụ án Phạm Văn B cùng ồng phạm vận chuyển trái phép chất ma túy, ngay sau khi phát hiện, ắt giữ người và tang vật, trong ngày 02/02/2020 Cơ quan iều tra ã tiến hành trưng cầu giám ịnh chất ma túy, ngày 05/05/2020 ã có kết quả giám ịnh, không có gì mâu thuẫn về mẫu vật giám ịnh, tại út lục số 52 là Biên ản giao nhận vật chứng gồm có 15 khoản, giữa ông Đỗ Trí (người giao) v i ông Nguyễn Văn Quyết (người nhận) là của chính ngay vụ án nói trên. Do vậy, lời trình ày và ề nghị của các Luật sư ào chữa cho ị cáo Phạm Văn B là không có cơ sở ể hủy Bản án sơ thẩm.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm, các ị cáo ều khai nhận về những hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm ã xác ịnh: Lúc 13 giờ 35 phút ngày 02/02/2020, tại Quốc lộ 1A, thuộc Tổ dân phố L, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Cơ quan iều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và các lực lượng chức năng ã phát hiện ắt giữ ối tượng Lê Kim H iều khiển xe ô tô, iển kiểm soát 43A-124.97, trên xe chở Phan Văn B và vận chuyển 4.907,356 gam ma túy, loại Heroine, ị Cơ quan chức năng truy ắt, B ném số ma túy trên xuống ường tại vị trí ngã a ầm Lập An, giao nhau giữa Quốc lộ 1A và ường Nguyễn Văn, thuộc thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cũng trong thời iểm ó tại Trạm thu phí phía Bắc, hầm H cơ quan chức năng ã tiến hành ắt giữ Phạm Đăng H1 ang i cảnh gi i, dẩn ường cho B và H vận chuyển trái phép chất ma túy. Các ị cáo là người có ầy ủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức iết ược việc vận chuyển trái phép chất ma túy ị pháp luật nghiêm cấm, là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội nhưng vì ộng cơ vụ lợi các ị cáo ã ất chấp pháp luật ể cùng nhau thực hiện tội phạm, vụ án có ồng phạm nhưng tính chất ồng phạm giản ơn, ị cáo Phan Văn B giữ vai trò chính, các ị cáo Lê Kim H và Phạm Đăng H1 giữ vai trò giúp sức, riêng ị cáo H là người giúp sức tích cực cho ị cáo B, cả 03 ị cáo ều tham gia thực hiện tội phạm. V i hành vi và khối lượng ma túy ã vận chuyển nêu trên của các ị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 04-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ã áp dụng iểm khoản 4 Điều 250 iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xét xử các ị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, xử phạt ị cáo Phan Văn B và ị cáo Lê Kim H hình phạt Tử hình và xử phạt ị cáo Phạm Đăng H1, hình phạt Tù chung thân ều về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là úng người, úng tội và úng quy ịnh của pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các ị cáo, xét thấy:
Đối v i ị cáo Phan Văn B: Bị cáo là ối tượng cầm ầu trực tiếp thực hiện hành vi liên hệ, nhận ma túy, thỏa thuận tiền công vận chuyển ể giao cho ối tượng khác ở Thành phố Hồ Chí Minh, nên ị cáo B phải chịu trách nhiệm hình sự chính về toàn ộ số ma túy mà Cơ quan iều tra ã phát hiện, thu giữ trong vụ án này. Bị cáo ược hưởng các tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, trong gia ình có người có công v i cách mạng ược quy ịnh tại iểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuy nhiên do số lượng ma túy quá l n, gồm 4.907,356 gam ma túy, loại Heroine, vượt gấp hơn 49 lần so v i khối lượng tối thiểu của khung hình phạt ược quy ịnh tại khoản 4 Điều 250 của Bộ luật hình sự quy ịnh, hơn nữa, về nhân thân ị cáo rất xấu, ã nhiều lần ị Tòa án xét xử và Công an xử lý, xử phạt liên quan ến ma túy. Tại Bản án sơ thẩm ã ánh giá úng tính chất và hậu quả của hành vi phạm tội, áp dụng ầy ủ các tình tiết giảm nhẹ ể xử phạt ị cáo hình phạt Tử hình là có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ gì m i, áng kể, do vậy, Hội ồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ị cáo, giữ nguyên Quyết ịnh về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm.
Đối v i ị cáo Lê Kim H là ồng phạm ã giúp sức tích cực trong việc thuê xe, lái xe theo chỉ ạo của B, chở B từ Đà Nẵng ra L, rồi từ Quảng Trị chở B về Đà Nẵng, trên ường chở B vận chuyển ma túy về Đà Nẵng, mặc dù iết rõ trên xe của mình ang chở ma túy, H ảo B ném ma túy ể phi tang, ồng thời không những không chấp hành yêu cầu dừng phương tiện của các lực lượng chức năng mà còn tăng tốc xe ô tô ỏ chạy v i tốc ộ rất l n (có thời điểm lên đến 125km/h), hòng cùng B tẩu thoát sự truy ắt của Cơ quan chức năng, hành vi ó vừa thể hiện giúp cho ị cáo B một cách tích cực, vừa gây ra sự nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của các lực lượng ang làm nhiệm vụ, cũng như những người dân ang tham gia giao thông vào thời iểm truy ắt, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật và ang có một tiền sự, vào ngày 07/2/2018, ị Công an phường Hòa Xuân, quận C, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.000.000 ồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng ến thời iểm phạm tội m i vẫn chưa chấp hành Quyết ịnh xử phạt, bị cáo ược hưởng các tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, Bị cáo trong gia ình có người có công v i cách mạng; các tình tiết giảm nhẹ ược quy ịnh tại iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tại Bản án sơ thẩm ã ánh giá úng tính chất, vai trò ồng phạm, xem xét áp dụng ầy ủ các tình tiết giảm nhẹ xử phạt mức án Tử hình ối v i ị cáo là tương xứng. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ gì m i, áng kể, do vậy, Hội ồng xét xử phúc thẩm cũng không chấp nhận kháng cáo của ị cáo, giữ nguyên Quyết ịnh về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm ối v i ị cáo.
Đối v i ị cáo Phạm Đăng H1, là ồng phạm ã giúp sức trực tiếp lái xe theo chỉ ạo của B, chở B từ thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ra tỉnh Hà Tĩnh nhận ma túy sau ó chở B vào tỉnh Quảng Trị; H1 còn cảnh gi i cho B vận chuyển ma túy từ Quảng Trị về Đà Nẵng, chạy xe phía trư c ể quan sát, cảnh gi i áo cho B iết nhằm ối phó v i các lực lượng chúc năng. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần ị Toà án xét xử về tội “Đánh ạc”. Bị cáo ược hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, có thời gian phục vụ quân ngũ, các tình tiết này ược quy ịnh tại iểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, ã ược Toà án cấp sơ thẩm xem xét, tại Bản án sơ thẩm ã ánh giá úng tính chất, vai trò tham gia của ị cáo, áp dụng ầy ủ các tình tiết giảm nhẹ ể xử phạt ị cáo hình phạt Tù chung thân, là tương xứng, úng quy ịnh của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ m i, nên Hội ồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ị cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm.
Từ những nhận ịnh nêu trên, trên cơ sở ề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, các ị cáo phạm tội thuộc trường hợp ặc iệt nghiêm trọng, có số lượng ma túy rất l n, tại phiên tòa phúc không có tình tiết giảm nhẹ gì m i áng kể, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm ã áp dụng là tương xứng, phù hợp v i tính chất, hành vi phạm tội của từng ị cáo nên Hội ồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên các Quyết ịnh về hình phạt tại Bản án sơ thẩm ối v i cả 03 ị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1.
. Các quyết ịnh khác của Bản án hình sự sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, nên Hội ồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng iểm khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Các ị cáo Phan Văn B, Lê Kim H, Phạm Đăng H1 mỗi ị cáo phải chịu 200.000 ồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ iểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1, giữ nguyên Quyết ịnh về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 04-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
2. Áp dụng iểm khoản 4 Điều 250; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) ối v i cả 03 ị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1; Áp dụng thêm Điều 40 Bộ luật hình sự ối v i ị cáo Phan Văn B và ị cáo Lê Kim H, áp dụng thêm Điều 39 Bộ luật hình sự ối v i ị cáo Phạm Đăng H1.
- Xử phạt: Bị cáo Phan Văn B hình phạt: Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; hiện ị cáo ang ị tạm giam từ ngày 02-02-2020.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Kim H hình phạt: Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; hiện ị cáo ang ị tạm giam từ ngày 02-02-2020.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Đăng H1 hình phạt tù: Chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02-02-2020.
3. Căn cứ khoản 4 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam ị cáo Phan Văn B và ị cáo Lê Kim H và ị cáo Phạm Đăng H1 ể ảm ảo thi hành án.
4. Căn cứ iểm d khoản 1 Điều 367 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Phan Văn B và ị cáo Lê Kim H ược gửi ơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nư c Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hôm nay.(12-12-2022)
5. Các quyết ịnh khác của Bản án hình sự sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các ị cáo Phan Văn B, Lê Kim H và Phạm Đăng H1, mỗi ị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) ồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (ngày 12-12-2022)./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế (07); - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế; - Công an tỉnh Thừa Thiên Huế (03); - Trại tạm giam Công an tỉnh Thừa Thiên Huế (04); - Bị cáo (TTG tống ạt cho bị cáo); - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HCTP, hồ sơ vụ án (ĐTT). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Công Thi |