vanban.org

Bản án 504/2022/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Hồ Đức N phạm tội: “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Hồ Đức N: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Đức Nhật cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 504/2022/HS-ST
Ngày: 28/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Khắc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Hương;

2/ Ông Huỳnh Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 404/2022/HSST ngày 31/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 534/QĐXXST-HS ngày 09/12/2022 đối với bị cáo:

Hồ Đức N, sinh năm 1992; Nơi sinh: tại Bà Rịa-Vũng Tàu; Thường trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Đức Hướng và bà Nguyễn Thị Hứa; Tiền án: 02 Theo Bản án số 40/2014/HSST ngày 29/5/2014 của TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/10/2014 (chưa xóa án tích). Theo Bản án số 38/2017/HSST ngày 17/01/2017 của TAND quận (nay là thành phố) Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 23/4/2019 (chưa xóa án tích); Nhân thân: Đang chấp hành hình phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án sơ thẩm số 419/2021/HS-ST ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; Tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2021 (có mặt).

Người bị hại: Chị Huỳnh Ngọc Thanh T, sinh năm: 1996

Địa chỉ: A, đường B, tổ 8, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trương Văn T, sinh năm: 1968

Địa chỉ: A đường Phạm Ngọc Thạch, phường B, thành phố C, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1998

Địa chỉ: A đường B, phường C, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).

Người làm chứng: Chị Huỳnh Ngọc Hồng Â, sinh năm 2004

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 17/7/2020, Hồ Đức N (sinh năm 1992) điều khiển xe mô tô hiệu Sonic biển số 60F3-270.79 chở Lê Văn Hùng (chưa rõ lai lịch) đi từ tỉnh Bình Dương đến nhà người chị (chưa rõ lai lịch) của Hùng ở Quận 9 (nay là thành phố Thủ Đức) để vay tiền. Trên đường đi, trong khi đang dừng đèn đỏ tại ngã tư Thủ Đức (đèn đỏ thuộc đường Võ Văn Ngân), Hùng thấy chị Huỳnh Ngọc Thanh Trúc (sinh năm 1996) điều khiển xe môtô hiệu SH Mode biển số 60B6-526.85 chở chị Huỳnh Ngọc Hồng Ân (sinh ngày 16/3/2004) ngồi sau đang sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu tím của chị Trúc đưa cho chị Ân để dò đường. Hùng rủ N giật điện thoại của chị Ân để bán lấy tiền tiêu xài, khỏi đi vay tiền, N đồng ý. Khi đèn xanh, N thấy chị Trúc điều khiển xe chạy ra đường Xa Lộ Hà Nội hướng về ngã tư Bình Thái, N điều khiển xe chạy theo, khi vừa qua trạm xe buýt đầu tiên trên đường Xa Lộ Hà Nội, đối diện địa chỉ: số 39, đường Nguyễn Văn Bá, Khu phố 3, phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức, N điều khiển xe chậm lại từ phía sau, áp sát bên trái xe, Hùng ngồi sau dùng tay phải giật được điện thoại trên tay chị Ân, N điều khiển xe tăng tốc chạy về hướng ngã tư Bình Thái về phòng trọ của N tại đường số 4, khu phố Bình Đường 1, phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Sau đó Hùng điều khiển xe đi bán điện thoại ở đâu không rõ, khoảng 30 phút sau, Hùng quay lại chia cho N 4.500.000 đồng rồi điều khiển xe bỏ đi đâu không rõ. Ngày 07/3/2021, Hồ Đức N bị Công an phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bắt quả tang về hành vi “Cướp giật tài sản” trên địa bàn thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Quá trình điều tra, N đã khai nhận hành vi: “Cướp giật tài sản” tại thành phố Thủ Đức ngày 17/7/2020 như trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức biết để giải quyết theo thẩm quyền. Làm việc với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Hồ Đức N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Bản kết luận định giá tài sản số 1629/CV-HĐĐGTSTTTHS ngày 13/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 trị giá 13.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Sonic biển số 60F3-270.79 kết quả xác minh là của anh Trương Văn Tâm, sinh năm 1983, địa chỉ: Hương Phước, Phước Tân, Biên Hòa, Đồng Nai đứng tên trên giấy đăng kí xe; xe do Nguyễn Văn Vinh, sinh năm 1998, địa chỉ: số 892, đường Trường Sơn, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức mua và tháng 6/2019 và cho lại N, do Vinh có nợ tiền N trước đó, không đủ tiền trả nên góp tiền mua xe trả cho N, thời điểm đó Vinh cũng đang trả góp 01 xe mô tô khác, không thể đứng tên, nên đã nhờ anh Tâm đứng tên, N là người quản lý, sử dụng xe. Tháng 01/2020, N đã bán xe mô tô trên cho Hùng với giá 42.000.000, không có làm hợp đồng mua bán. Hiện nay chưa làm việc được với Hùng nên chưa thu giữ được chiếc xe trên.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu Hồ Đức N bồi thường số tiền 13.000.000 đồng là giá trị của điện thoại bị chiếm đoạt.

Tại bản Cáo trạng số 273/CT – VKS ngày 26/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Hồ Đức N đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hồ Đức N về tội: “Cướp giật tài sản” đồng thời đề nghị áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Hồ Đức N từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

- Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, bị cáo xin lỗi bị hại, xin lỗi cha mẹ và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình tố tụng phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 09 giờ ngày 17/7/2020, tại đường Xa Lộ Hà Nội, đối diện địa chỉ: số 39, đường Nguyễn Văn Bá, Khu phố 3, phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức. Hồ Đức N có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Sonic biển số 60F3-270.79 chở Lê Văn Hùng (chưa rõ lai lịch) áp sát xe mô tô do chị Huỳnh Ngọc Thanh Trúc điều khiển, phía sau chở chị Huỳnh Ngọc Hồng Ân đang lưu thông trên đường để Hùng giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 trị giá 13.000.000 đồng của chị Trúc sau đó cả hai tẩu thoát.

Hành vi điều khiển xe mô ô ép sát và nhanh chóng giật tài sản của bị hại mà các bị cáo thực hiện có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị giật tài sản cũng như của những người tham gia giao thông đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội: “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d,i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bản thân bị cáo 01 tiền án chưa được xoá án tích theo Bản án số 38/2017/HSST ngày 17/01/2017 của Tòa án nhân dân quận (nay là thành phố) Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Như vậy, bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm do cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp: “Tái phạm nguy hiểm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị xét xử nhưng không ý thức thay đổi bản thân thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo nhằm đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với Lê Văn Hùng, hiện chưa xác định được lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được rõ sẽ xử lý sau.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Bị hại chị Huỳnh Ngọc Thanh Trúc yêu cầu bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt số tiền 13.000.000 đồng là có cơ sở nên được ghi nhận.

- Giao cơ quan Điều tra tiếp tục truy tìm và xử lý theo quy định đối với 01 xe mô tô hiệu Sonic biển số 60F3-270.79.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1- Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Hồ Đức N phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Hồ Đức N: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án sơ thẩm số 419/2021/HS-ST ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Hồ Đức N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2021.

2- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Buộc bị cáo Hồ Đức N bồi thường cho chị Huỳnh Ngọc Thanh Trúc số tiền 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bên bị thi hành án chưa thi hành, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

- Giao cơ quan Điều tra tiếp tục truy tìm và xử lý theo quy định đối với 01 xe mô tô hiệu Sonic biển số 60F3-270.79.

3- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án để tính án phí Tòa án:

Bị cáo Hồ Đức N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Người bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP.HCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- Sở Tư pháp TP.HCM;

- VKSND TP.Hồ Chí Minh;

- VKSND TP.Thủ Đức;

- Cơ quan CSĐT Công an TP.Thủ Đức;

- Nhà tạm giữ Công an TP.Thủ Đức;

- Cơ quan THA.HS Công an TP.Thủ Đức;

- Chi cục THA.DS thành phố Thủ Đức;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: Hồ sơ, VT.

Đinh Khắc Hưng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ