vanban.org

Bản án 503/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[2] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [3] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tiến A - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 503/2026/HSST
Ngày: 14 - 8 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hồ Văn Long

2/ Bà Nguyễn Ngọc Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phan Minh Vương – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 578/2026/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 652/2026/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Tiến A, sinh ngày: 05/6/2000; tại: Thành phố H; hộ khẩu thường trú: 22 đường số B, khu phố B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/4/2026 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Võ Tá Bảo Q, sinh ngày 07/02/2008; địa chỉ: E đường L, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Hà Ngọc T2, sinh ngày 03/01/1989; địa chỉ: Nhà không số (căn 5 – trái) nhánh 9/19N1 hẻm 204 ấp D, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

2/ Bà Trần Thị N, sinh ngày 10/12/1997; địa chỉ: Nhà không số (căn 5 – trái) nhánh 9/19N1 hẻm 204 ấp D, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh –Vắng mặt.

3/ Ông Nguyễn Anh T3, sinh ngày 22/02/1995; địa chỉ: A đường N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

4/ Bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1974; địa chỉ: E khu dân cư P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm nên ngày 10/3/2026, Trần Tiến A xin vào làm việc tại quán mì vịt tiềm Ba H tại địa chỉ 3 đường L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 22 giờ 35 phút cùng ngày, Tiến A thấy 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus 128GB màu xanh của anh Võ Tá Bảo Q đang cắm sạc trên cửa sổ tầng trệt không người trông coi. Do cần tiền tiêu xài nên Tiến A nảy sinh ý định lấy trộm, Tiến A rút dây sạc rồi lấy điện thoại di động trên bỏ vào túi quần bên phải rồi đi bộ ra cửa hông của quán, hướng về đường T và đặt xe công nghệ đến tiệm I tại I đường N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi vào tiệm, Tiến A sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A73 5G màu xanh da trời của mình để vào tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Tony Tran” truy cập vào trang “Thu mua Đ” đăng bài bán điện thoại di động trên để lấy tiền tiêu xài.

Đến khoảng 10 giờ 45 phút ngày 11/3/2026, anh Hà Ngọc T2 thấy bài đăng bán điện thoại di động của Tiến A nên sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Tuzg Zuky” nhắn tin liên hệ để mua điện thoại trên. T2 xin số điện thoại 0862290521 của Tiến A để gọi điện thoại trao đổi mua bán điện thoại. Khoảng 12 giờ cùng ngày, anh T2 và Tiến A gặp nhau tại quán N1 địa chỉ I N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để xem điện thoại, cả hai thống nhất mua bán với giá 1.000.000 đồng. Do Tiến A không có tài khoản ngân hàng nên Tiến A nói anh T2 đến tiệm C tại A N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh chuyển khoản rồi lấy tiền mặt. Sau đó, anh T2 điều khiển xe môtô biển số 63B1-771.96 chở Tiến A đến tiệm C chuyển khoản 1.000.000 đồng cho anh Nguyễn Anh T3 đang ở tại quầy rồi lấy tiền mặt 990.000 đồng (10.000 đồng tiền phí dịch vụ) và đưa cho Tiến A. Tiến A lấy 50.000 đồng đưa cho anh T2 trả tiền xăng để nhờ anh T2 chở Tiến A về lại tiệm I1 để chơi game. Sau khi mua điện thoại di động Iphone 14 Plus 128GB màu xanh của Tiến A thì anh T2 mang về nhà tặng cho vợ là Trần Thị Mỹ N để sử dụng, anh T2 không biết điện thoại trên do Tiến A trộm cắp mà có.

Ngày 12/3/2026, anh Võ Tá Bảo Q có nhờ anh Phạm Khắc H1 là chủ quán mì vịt tiềm B tìm kiếm thông tin thì phát hiện Tiến A đang đi bộ trên đường N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên đến và đưa Tiến A tới Công an phường T trình báo.

Bản kết luận định giá tài sản số 895/KL-HĐĐGTS ngày 27/3/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường T xác định: Điện thoại di động Iphone 14 plus màu xanh dung lượng 128GB, số IMEI1:356295375298789, số IMEI2:356295372194536, thời điểm định giá ngày 10/3/2026 có trị giá là 7.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKS-KV9 ngày 08 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Tiến A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm về tội danh và điều khoản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tiến A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Vào ngày 10/3/2026 tại quán mì vịt tiềm B ở địa chỉ số C đường L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Tiến A đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Plus, trị giá 7.500.000 đồng của anh Võ Tá Bảo Q thì sau đó bị phát hiện bắt giữ.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Tiến A phạm tội “Trộm cắp tài sản”, như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo T4 đã chiếm đoạt tài sản có trị giá là 7.500.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; gia đình bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền bồi thường thiệt hại; bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, quy định về hình phạt bổ sung, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Tá Bảo Q đã nhận lại tài sản, anh Hà Ngọc T2 và anh Võ Tá Bảo Q không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần trách nhiệm dân sự.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 14 plus màu xanh, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả điện thoại trên cho anh Võ Tá Bảo Q nên Hội đồng xét xử không xử lý.

- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A73 5G màu xanh da trời, đã qua sử dụng, bị nứt vỡ màn hình và nứt vỡ mặt lưng phía sau. Là điện thoại của Tiến A sử dụng để liên lạc với người thu mua điện thoại, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 áo thun ngắn tay mà xanh đậm, 01 quần tây dài màu xanh đậm, 01 đôi dép quai ngang màu đen. Là trang phục Tiến A mặc khi trộm cắp tài sản, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Số tiền 1.000.000 đồng. Là số tiền Tiến A có được khi bán điện thoại Iphone 14 plus 128GB màu xanh dương. Do bị cáo tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả nhưng anh Hà Ngọc T2 và anh Võ Tá Bảo Q không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, tuy nhiên, đây là khoản tiền thu lợi bất chính nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S22 Ultra màu tím, đã qua sử dụng. Là điện thoại của T2 sử dụng để liên lạc mua bán điện thoại với bị cáo Trần Tiến A nhưng anh T2 không biết tài sản do bị cáo Tiến A bán là tài sản do phạm tội mà có nên trả lại điện thoại trên cho anh Hà Ngọc T2. Đồng thời, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H không xử lý hình sự đối với anh Hà Ngọc T2 là có căn cứ.

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tiến A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Trần Tiến A 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2026.

[2] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm điểm a, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A73 5G màu xanh da trời, số Imei , đã qua sử dụng, bị nứt vỡ màn hình và nứt vỡ mặt lưng phía sau.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun ngắn tay mà xanh đậm, 01 (một) quần tây dài màu xanh đậm, 01 (một) đôi dép quai ngang màu đen.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng (theo Giấy nộp tiền ngày 22/4/2026 của Ngân hàng TMCP C1).

- Trả cho anh Hà Ngọc T2 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy S22 Ultra màu tím, số Imei 1: 353748820713201, Imei 2: 354097530713203, đã qua sử dụng.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 77/PNK ngày 21/4/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H).

[5] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Tiến A nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp Bản án, Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 36, Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ