- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp HĐCNQSDĐ"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 503/2023/DS-PT Ngày: 28 - 12 - 2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Quốc Tuấn; bà Dương Thuý Hằng.
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 451/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 448/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đường Thị H, sinh năm: 1951; địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Phúc Duy T, sinh năm 1990; địa chỉ: Số E, C, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (theo hợp đồng ủy quyền ngày 17-5-2023), có mặt.
2. Bị đơn: chị Đường Thị Diễm T1, sinh năm 1981; địa chỉ: số Q, ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
3.1. Anh Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1983 và chị Phạm Thị N, sinh năm 1995; địa chỉ: Số E, hẻm A, đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh G, chị N: anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1984; địa chỉ: Số G, đường P, khu phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 21-6-2023); có mặt.
3.2. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1980; địa chỉ: Tổ H, Q, ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
4. Người kháng cáo: anh Nguyễn Hoàng G và chị Phạm Thị N – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 5 năm 2023 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Đường Thị H, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Phúc Duy T trình bày:
Bà H có 01 phần đất diện tích 498,4 m2, thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) ngày 29-3-2006. Khoảng năm 2015, bà H cho chị T1 là cháu ruột mượn giấy đất này để vay tiền, thỏa thuận miệng thời gian mượn giấy tờ là khoảng 05 năm. Đến năm 2021, bà H yêu cầu chị T1 trả lại giấy đất thì chị T1 cứ hẹn mà không trả. Khoảng đầu năm 2023, anh G gọi điện cho bà H nói trả tiền cho chị T1 vì chị T1 vay tiền mà không còn khả năng trả nợ. Có lần chị T1 có chở bà H đến văn phòng C nói là làm hồ sơ cho chị T1 vay tiền. Bà H đọc chữ không rành, chỉ biết viết tên nhưng rất khó khăn, cũng tin tưởng chị T1 nên có ra phòng công chứng lăn tay nhưng không biết nội dung cụ thể là gì. Sau đó, bà H đến văn Phòng Công chứng Nguyễn Thị Đ tìm hiểu thì được biết chị T1 đã làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt là HĐCNQSDĐ) cho anh G, chị N. Bà H cùng các anh chị em của bà H đến nhà chị T1 yêu cầu trả lại giấy đất cho bà H thì chị T1 hứa sẽ bán đất ở ấp C, trả tiền cho anh G, chị N và lấy giấy đất về trả lại cho bà H. Chị T1 chỉ hứa mà không thực hiện.
Nay bà H khởi kiện chị T1 yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 100/2022 giữa bà Đường Thị Diễm T1 với anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N ngày 07-01-2022 lập tại Văn Phòng C1; yêu cầu chị T1 trả lại cho bà H GCNQSDĐ số AD820532, do bà Đường Thị H đứng tên.
Ngày 16-8-2023, bà H khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy HĐCNQSDĐ đất giữa bà Đường Thị H với Đường Thị Diễm T1 đề ngày 07-7-2015 lập tại Văn phòng C2 số công chứng 1710, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD.
- Quá trình tố tụng bị đơn chị Đường Thị Diễm T1 trình bày:
Thời gian chị không nhớ nhưng do chị làm ăn bị hụt vốn nên có mượn bà H GCNQSDĐ để đi vay Ngân hàng. Do mỗi lần đi vay phải chở bà H ra ký tên nên bà H nói để làm thủ tục sang tên phần đất cho chị đứng tên để dễ đi vay. Lúc đầu chị vay Ngân hàng nhưng sau đó bị nợ xấu nên Ngân hàng không cho chị vay lại. Sau đó, chị lấy giấy đất để thế chấp vay tiền của anh G, chị N số tiền 1.600.000.000 đồng, lãi suất mỗi tháng 48.000.000 đồng để trả nợ cho Ngân hàng. Chị phải làm thủ tục sang tên phần đất cho anh G, chị N mục đích là đảm bảo làm tin cho khoản vay. Hàng tháng chị đóng lãi cho anh G, chị N. Thường thì đóng lãi bằng tiền mặt không ký tên, có lần chuyển khoản số tiền 60.000.000 đồng. Ngày 06-01-2022, hai bên có lập biên bản thỏa thuận. Khi nào chị trả tiền thì anh G, chị N sẽ làm thủ tục sang tên lại phần đất cho chị để chị trả lại cho bà H. Chị đồng ý theo yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà H.
Ban đầu chị vay anh G, chị N số tiền vốn vay là 1.600.000.000 đồng. Sau này có vay thêm số tiền 400.000.000 đồng nhưng trong đó có cả vốn và lãi. Mỗi lần vay tiền anh G, chị N vợ chồng chị đều phải ký giấy. Chị đồng ý sẽ trả lại số tiền đã vay cho anh G, chị N nhưng vì số tiền lớn quá nên chị đang tính cách bán nhà đất để trả lại cho anh G, chị N.
Nay chị đồng ý hủy HĐCNQSDĐ theo yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà H. Chị đồng ý trả cho anh G, chị N tiền vốn vay 2.000.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật. Về lãi suất đề nghị Tòa án xem xét cấn trừ cho chị số tiền 60.000.000 đồng chị đã gửi qua tài khoản.
- Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N, người đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Văn T2 trình bày:
Ngày 07-01-2022, chị T1 chuyển nhượng cho anh G, chị N phần đất diện tích 498,4 m2, thửa đất số 21, tờ bản đồ 28 tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh với giá 2.000.000.000 đồng vì chị T1, anh M không trả được 2 tỷ đồng cho vợ chồng anh G nên đã đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất này và đã làm HĐCNQSDĐ tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Đ. Khi sang nhượng chị T1 nói đất bà cô bán cho chị T1 và xin ở lại một tháng để cô chị T1 kiếm nơi ở mới. Ngày 09-02-2022, anh G, chị N đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp GCNQSDĐ số DĐ 751192, số vào sổ cấp GCN: CS15940. Anh G, chị N không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà H.
Anh T2 xác định việc chị T1, anh M có vay anh G, chị N số tiền 2.000.000.000 đồng là thật. Chị T1, anh M và anh G, chị N có lập biên bản thỏa thuận vào ngày 06-01-2022 là dùng tài sản quyền sử dụng đất nêu trên để đảm bảo cho khoản vay 02 tỷ đồng. Nếu anh M, chị T1 không thanh toán tiền đúng hạn thì phải giao tài sản bảo đảm cho anh G, chị N.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T2 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà H. Nếu trường hợp phải hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì yêu cầu anh M, chị T1 trả tiền vốn vay 2.000.000.000 đồng, tiền lãi 20%/năm từ ngày 06-10-2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Tiền lãi đồng ý cấn trừ số tiền 60.000.000 đồng. Theo thỏa thuận ngày 06-01-2022, nếu anh M, chị T1 không trả được tiền thì xử lý tài sản bảo đảm là nhà đất nêu trên.
- Quá trình tố tụng anh Nguyễn Văn M trình bày:
Thời gian anh không nhớ nhưng khoảng 6 đến 7 năm nay vợ anh là chị T1 có mượn của bà H GCNQSDĐ để đi vay tiền làm ăn. Cụ thể là lấy tiền đầu tư cho khu vui chơi Văn M. Bà H cho mượn bằng hình thức ra Phòng C3 để làm thủ tục sang tên phần đất cho chị T1 đứng tên. Hình thức như vậy nhưng thực tế là bà H cho vợ anh mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây vợ anh dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng. Sau này do dịch bệnh làm ăn khó khăn nên Ngân hàng không cho vay. Vợ chồng anh đã lấy GCNQSDĐ của bà H để vay tiền của anh G, chị N.
Ngày 07-01-2022, vợ chồng anh vay của anh G, chị N số tiền 1.600.000.000 đồng. Vợ chồng anh có giao cho anh G, chị N GCNQSDĐ của bà H. Nhưng anh G, chị N yêu cầu vợ chồng anh phải làm HĐCNQSDĐ của bà H cho vợ anh mượn. Hai bên có thỏa thuận miệng thời gian trả tiền vốn, lãi suất nhưng anh không nhớ cụ thể như thế nào. Vợ chồng anh có đóng lãi cho anh G, chị N 3%/tháng được vài tháng thì không đóng được nữa. Do vợ chồng anh không có tiền đóng lãi nên anh G đã yêu cầu vợ chồng anh xuống ký tên tiền lãi lên. Anh G, chị N cũng yêu cầu trả tiền nhưng vợ chồng anh không có tiền để trả.
Sau khi Tòa án mời làm việc anh G có gặp vợ chồng anh đề nghị vợ chồng anh trả tiền vốn 1.600.000.000 đồng thì anh G sẽ làm thủ tục sang tên phần đất lại cho vợ anh để vợ anh trả cho bà H, còn tiền lãi thì hai bên tính sau. Nhưng do vợ chồng anh không có tiền nên vẫn không thực hiện được.
Anh thống nhất với ý kiến của chị T1. Anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
* Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 100/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành đã quyết định;
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 122, 124, 131, 357, 407, 357, 463, 464, 466, 468 và Điều 500 của Bộ luật Dân sự; Điều 188 của Luật đất đai, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà Đường Thị H đối với chị Đường Thị Diễm T1.
- Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Đường Thị Diễm T1 với anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N ngày 07-01-2022 lập tại Văn phòng C1 số công chứng 100 quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD là hợp đồng vô hiệu.
- Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đường Thị H với chị Đường Thị Diễm T1 đề ngày 07-7-2015 lập tại Văn phòng C2 số công chứng 1710, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD là hợp đồng vô hiệu.
- Buộc anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N có nghĩa vụ trả lại cho bà Đường Thị H phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 498,4 m2 (theo đo đạc thực tế diện tích là 494,6 m2), thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Buộc chị Đường Thị Diễm T1, anh Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N tiền vốn vay 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, tiền lãi tính đến ngày 21-9-2023 là 321.800.000 (ba trăm hai mươi mốt triệu tám trăm ngàn) đồng.
- Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 03/10/2023, anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh T2 (đại diện cho anh G, chị N) trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Anh T (đại diện bà H) trình bày: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Chị T1 trình bày: thống nhất lời trình bày của bà H.
* Phần tranh luận
- Anh T2 trình bày:
+ Thừa nhận HĐCNQSDĐ giữa chị T1 và anh G, chị N là giả tạo nhằm che đậy hợp đồng vay tài sản ngày 06/01/2022 nên anh G không kháng cáo.
+ Đối với HĐCNQSDĐ giữa chị T1 với bà H là do bà H tự nguyện chuyển nhượng cho chị T1, tại lời khai của bà H trình bày cho chị T1 mượn GCNQSDĐ để đi vay tiền từ năm 2015 nên thời hiệu khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng đã hết, bà H không có quyền khởi kiện huỷ hợp đồng. Cấp sơ thẩm tuyên huỷ HĐCNQSDĐ giữa chị T1 và bà H là không đúng pháp luật.
+ Bà H và chị T1 cấu kết với nhau nhằm tẩu tán tài sản làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh G; sửa bản án sơ thẩm.
- Anh T trình bày:
+ HĐCNQSDĐ giữa chị T1 và anh G, chị N là giả tạo nhằm che đậy hợp đồng vay tài sản ngày 06/01/2022.
+ Bà H không có chuyển nhượng đất này cho chị T1, do bà H già yếu không rành chữ nên chị T1 kêu bà H ký HĐCNQSDĐ hiện bà H và các con vẫn sinh sống trên đất này đến năm 2022, khi anh G nói đất này chị T1 đã chuyển nhượng cho anh thì bà H mới biết và khởi kiện chị T1 nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh G, chị N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của anh G, chị N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: anh G, chị N kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 100/2022 giữa chị Đường Thị Diễm T1 với anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N ngày 07-01-2022 lập tại V công chứng Nguyễn Thị Đ và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đường Thị H với chị Đường Thị Diễm T1 đề ngày 07-7-2015 lập tại Văn phòng C2 số công chứng 1710, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu. Chị T1 đồng ý, anh G, chị N không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H.
Xét kháng cáo của anh G, chị N thấy rằng:
Về chứng cứ: diện tích đất 498,4 m2 (theo đo đạc thực tế diện tích là 494,6 m2), thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh do bà Đường Thị H đứng tên GCNQSDĐ. Chị T1 thừa nhận bà H cho chị mượn giấy đất để vay tiền. Do bà H đã già đi lại khó khăn nên đã làm HĐCNQSDĐ cho chị đứng tên. Ngày 06/01/2022, chị T1 vay của anh G, chị N số tiền 1.600.000.000 đồng lãi suất 48.000.000 đồng/tháng (tương đương 3%/tháng), hai bên thoả thuận chị T1 làm thủ tục chuyển nhượng diện tích đất trên cho anh G, chị N để đảm bảo hợp đồng vay (Bút lục 161, 162), ngày 07/01/2022 (sau một ngày) hai bên ra công chứng ký HĐCNQSDĐ. Sau đó, chị T1 vẫn trả lãi cho anh G đến ngày 06/8/2022. Đến ngày 06/10/2022, chị vay tiếp tổng số tiền vốn vay là 2.000.000.000 đồng. Do đó, trên cơ sở thừa nhận của chị T1 và các tài liệu chứng cứ viễn dẫn trên, có căn cứ xác định HĐCNQSDĐ ký giữa chị T1 với vợ chồng anh G, chị N ngày 07-01-2022 là giả tạo nhằm che dấu hợp đồng vay tài sản. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà H; Tuyên bố HĐCNQSDĐ giữa chị Đường Thị Diễm T1 với anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N ngày 07-01-2022 lập tại Văn phòng C1 số công chứng 100 quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.
Đối với HĐCNQSDĐ ký giữa bà Đường Thị H với chị Đường Thị Diễm T1 đề ngày 07-7-2015 lập tại Văn phòng C2 số công chứng 1710, Quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD. Anh G, chị N cho rằng đất này năm 2015 bà H đã tự nguyện cho chị T1 đứng tên có quyền thế chấp vay tài sản nếu huỷ HĐCNQSDĐ giữa bà H và chị T1 tạo điều kiện cho chị T1 tẩu tán tài sản và bà H đã hết thời hiệu khởi kiện. Lời trình bày của anh chị là không đúng thực tế bởi lẽ: bà H chỉ cho chị T1 mượn giấy đất để đi vay Ngân hàng (bà H ký bảo lãnh) nhưng chị T1 đã làm HĐCNQSDĐ sang tên chị T1, không có chứng cứ chị T1 trả tiền mua đất cho bà H. Do đó hợp đồng này chưa thực hiện triệt để, đến năm 2022, anh G thông báo cho bà H biết là chị T1 đã chuyển nhượng nhà đất này cho anh G nên bà H mới biết chị T1 đứng tên đất của bà nên vẫn còn thời hiệu khởi kiện tính từ ngày bà biết được quyền lợi của bà bị xâm phạm. Mặt khác, trên đất có nhà bà H hiện bà vẫn đang cư trú, HĐCNQSDĐ ký giữa chị T1, bà H không đề cập đến căn nhà trên đất nên hợp đồng này cũng bị vô hiệu do có đối tượng không thực hiện được theo Điều 408 của Bộ luật Dân sự. Kháng cáo của anh G, chị N không có căn cứ không được Hội đồng xét xử chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
HĐCNQSDĐ giả tạo nhưng hợp đồng vay tài sản vẫn có hiệu lực. Cấp sơ thẩm tính toán và buộc vợ chồng chị T1 phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng anh G, chị N số tiền vốn vay 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng và tiền lãi tính đến ngày 21-9-2023 là 321.800.000 (ba trăm hai mươi mốt triệu tám trăm ngàn) đồng, các bên đương sự không kháng cáo nên Hội đồng không xem xét.
Về chi phí tố tụng: Buộc chị T1 trả lại cho bà H số tiền chi phí tố tụng là 13.696.000 đồng.
Về án phí: chị Đường Thị Diễm T1 phải chịu 600.000 đồng án phí về yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo điểm a khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về khoản trả nợ vay cho anh G, chị N số tiền được chấp nhận là 2.321.800.000 đồng phải chịu án phí là 72.000.000 đồng + (321.800.000 đồng x 2%) = 78.436.000 đồng theo khoản 6 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Hai khoản án phí chị T1 phải chịu số tiền 79.036.000 đồng.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên anh G, chị N phải chịu án phí phúc thẩm số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N.
Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 100/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh;
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 122, 124, 131, 357, 407, 408, 357, 463, 464, 466, 468 và Điều 500 của Bộ luật Dân sự; Điều 188 của Luật Đất đai, khoản 6, Điều 26 điểm a khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà Đường Thị H đối với chị Đường Thị Diễm T1, anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N.
1.1. Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Đường Thị Diễm T1 với anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N ngày 07-01-2022 lập tại Văn phòng C1 số công chứng 100 quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD diện tích 494,6 m2, thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
1.2. Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đường Thị H với chị Đường Thị Diễm T1 đề ngày 07-7-2015 lập tại Văn phòng C2 số công chứng 1710, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD diện tích 494,6 m2, thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
1.3. Buộc anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N có nghĩa vụ trả lại cho bà Đường Thị H phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 498,4 m2 (theo đo đạc thực tế diện tích 494,6 m2), thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28, tứ cận:
+ Đông giáp Hẻm dài 17,44 m; Tây giáp đường đất dài 17,89 m;
+ Nam giáp thửa 366 dài 28 m; Bắc giáp thửa 487 dài 28 m.
1.4. Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 751192; số vào sổ cấp GCN: CS15940 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/02/2022 cho anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28, diện tích 498,4 m2 để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đường Thị H theo quy định của pháp luật.
2. Buộc chị Đường Thị Diễm T1, anh Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N tiền vốn vay 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, tiền lãi tính đến ngày 21-9-2023 là 321.800.000 (ba trăm hai mươi mốt triệu tám trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày 22-9-2023 cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Chi phí tố tụng: buộc chị Đường Thị Diễm T1 trả lại cho bà Đường Thị H số tiền 13.696.000 (mười ba triệu sáu trăm chín mươi sáu ngàn) đồng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Đường Thị Diễm T1 phải chịu số tiền 79.036.000 (bảy mươi chín triệu không trăm ba mươi sáu ngàn) đồng.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Nguyễn Hoàng G, chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh G chị N đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0021867 ngày 03-10-2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành; (anh G, chị N đã nộ đủ án phí).
6. Trường hợp quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TPHCM; - VKSNDCC tại TPHCM; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND TX Hòa Thành; - CCTHADS TX Hòa Thành; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ; - Đương sự; - Lưu tập QĐ; HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tâm |