- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hồng Tr - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Hồng Tr.
- Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 503/2018/HS-PT Ngày 24 tháng 9 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Ba
Ông Lê Hoàng Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau – Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 424/2018/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Võ Hồng Tr. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 19/6/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 628/2018/QĐPT-HS ngày 31 tháng 8 năm 2018.
- Bị cáo có kháng cáo: Võ Hồng Tr, sinh ngày 01/01/1991; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp MP, xã MK, huyện PĐ, thành phố Cần Thơ; Tạm trú: Khóm 4, thị trấn UM, huyện UM, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: sửa bếp gas; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông: Võ Hồng D (đã chết) và bà Phạm Thị Ch - sinh năm 1961; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Võ Hồng Tr đang bị tạm giam từ ngày 11/11/2017 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Luật sư Nguyễn Văn N – Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị hại: Lê Thị D1 – sinh ngày 01/01/2001 (chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1973
Địa chỉ: Số 234/7, Khóm 3, phường 9, thành phố CM, tỉnh Cà Mau.
(Đại diện hợp pháp của người bị hại không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị nên Tòa không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 01 tháng 11 năm 2017, Võ Hồng Tr điều khiển xe mô tô chạy từ thị trấn UM, huyện UM, tỉnh Cà Mau để đi sửa bếp gas dạo. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Tr đến nhà ông Trương Chí T1 (em rể Tr) ở ấp PT, xã TP, huyện CN, tỉnh Cà Mau nhậu cho đến khoảng 18 giờ thì Tr nghỉ nhậu rồi chạy xe đến Nhà Thiếu Nhi tại thành phố CM, tỉnh Cà Mau gặp bạn gái tên Lê Thị D1 - sinh ngày 01 tháng 01 năm 2001, ngụ khóm 3, phường 9, thành phố CM cùng uống nước.
Sau đó, Tr chở D1 đến nhà trọ “DP” do ông Huỳnh Văn Ph làm chủ, ngụ ấp PT, xã TP, huyện CN, tỉnh Cà Mau thuê phòng số 02 để nghỉ. Khi Tr và D1 vào phòng rồi quan hệ tình dục với nhau xong, Tr và D1 lấy keo dán dép (hiệu Super GLUE) ra cả hai cùng hít rồi nằm nghỉ được một lúc thì D1 nói với Tr về nhà ngủ nhưng Tr không cho D1 về. Từ đó, D1 và Tr cự cãi với nhau, D1 ngồi dậy thì Tr dùng tay gạt vào ngực của D1, làm D1 ngã xuống giường, Tr ngồi lên bụng D1 và dùng hai tay bóp cổ D1 cho đến chết. Tr vào phòng vệ sinh lấy thùng Expo hứng nửa thùng nước đem ra để sát vách tường rồi nhấn đầu D1 cắm vào thùng nước rồi mở cửa đi ra lấy xe chạy đến nhà ông Trương Chí T1 thì gặp Võ Hồng Th (anh ruột Tr) đang ngồi nhậu, Tr nói với Th là Tr lỡ giết người ở nhà trọ “DP” và nhờ Th đến lấy giấy chứng minh cho Tr, còn Tr chạy xe về nhà.
Võ Hồng Th cùng Trương Chí T1 đi đến nhà trọ “DP” gặp ông Huỳnh Văn Ph (chủ nhà trọ) nói là có người chết ở phòng số 02 nên mở ra xem thì thấy Lê Thị D1 đã chết, đầu cắm vào thùng Expo nên trình báo chính quyền địa phương.
- Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 191/GĐPY/2017 ngày 03 tháng 11 năm 2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau, xác định Lê Thị D1 chết là do ngạt cơ học.
- Tại bản kết luận số 3740/C54B, ngày 28/12/2017 của Phân viện Khoa học Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Trên mẫu dịch âm đạo và chiếc quần lót ghi thu của bị hại Lê Thị D1 có dính tinh trùng người. Phân tích ADN từ mẫu tinh trùng này cho kiểu gen hoàn chỉnh của một nam giới và trùng với kiểu gen của Võ Hồng Tr.
- Tại bản kết luận số 236/C54B, ngày 22/01/2018 của Phân viện Khoa học Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chất màu vàng đựng trong 13 tuýp keo có chữ “FOR WOOD RUBBER FURNITURE PEPER LEATHER”, 02 đầu vỏ kim loại màu trắng và 02 gói nylong được niêm phong có tìm thấy thành phần Toluene, tổng trọng lượng: 24,7gam. Toluene là tiền chất ma túy nằm trong Danh mục IV, STT 31, NĐ 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Phân viện Khoa học Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh không có mẫu chuẩn định lượng Toluene nên không xác định được hàm lượng Toluene trong mẫu gửi giám định theo yêu cầu của Cơ quan điều tra về liều lượng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 19/6/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Hồng Tr phạm tội “Giết người”.
2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Hồng Tr tù chung thân; thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2017.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm; ngày 20/6/2018, bị cáo Võ Hồng Tr có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù với lý do bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo cho rằng mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo là quá nặng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Tr có ý kiến: Sau khi phạm tội bò caùo ñaõ thậât thaø khai baùo vaø aên naên hoái caûi, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn, bị cáo nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Mức án tù chung thân đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, xử bị cáo mức án 20 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu,chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Hồng Tr trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Taïi phieân toøa phuùc thaåm hoâm nay bò caùo Võ Hồng Tr khai nhaän toàn bộ haønh vi phaïm toäi của bị cáo ñuùng nhö noäi dung aùn sô thaåm ñaõ neâu. Bị cáo không kháng cáo về nội dung vụ án, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xeùt thaáy lôøi khai cuûa bò caùo Võ Hồng Tr là phuø hôïp vôùi lôøi khai ngöôøi chöùng vaø caùc taøi lieäu chöùng cöù khaùc coù trong hoà sô vuï aùn, coù ñủ cô sôû xaùc ñònh bò caùo Võ Hồng Tr coù haønh vi phạm tội “Giết người”. Chính bị cáo đã dùng hai tay bóp cổ người bị hại cho đến tử vong, rồi nhận đầu người bị hại vào xô nước, nhằm tước đi mạng sống của người bị hại, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện có tính chất côn đồ. Toøa aùn caáp sô thaåm xeùt xöû bò caùo Võ Hồng Tr phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật hình sự năm 1999 laø coù caên cöù, ñuùng phaùp luaät, không oan.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Hồng Tr; Hội đồng xét xử xét thấy: Toøa aùn caáp sô thaåm đã xem xeùt bò caùo sau khi phaïm toäi ñaõ thaønh khaån khai baùo aên naên hoái caûi. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo hết sức côn đồ, bị cáo đã giết chết chị D1 là người yêu, là bạn gái bị cáo; khi vừa mới quan hệ tình dục xong; chị D1 đòi đi về nhà ngủ nhưng bị cáo không cho chị D1 về nhà dẫn đến giữa bị cáo và bị hại cự cãi. Hơn nữa, giữa bị cáo và bị hại trước đó vừa mới cùng nhau đi uống cà phê và thuê nhà trọ quan hệ với nhau. Lẽ ra từ quan hệ tình cảm với nhau thì hơn ai hết bị cáo phải là người quan tâm, thương yêu, chăm sóc lo lắng cho người bị hại, ngược lại chỉ vì vấn đề bất đồng nhỏ có thể giải quyết sự việc nhẹ nhàng và êm đẹp ngược lại bị cáo lại ra tay tàn độc và quyết liệt, sau khi bóp cổ D1 đến chết nhưng bị cáo vẫn còn nghi ngờ sợ chị D1 tỉnh lại nên đã mang nửa xô nước rồi nhận đầu D1 vào xô nước đến chết. Cho thấy ý thức của bị cáo quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng là phải tước đi sinh mạng sống của D1 trong khi tuổi đời của D1 chưa tròn 18 tuổi. Hành vi của bị cáo, là đặc nguy hieåm cho xaõ hoäi, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng của người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo đã xaâm phaïm đặc biệt nghieâm troïng ñeán tính mạng, gây ra cái chết của người bị hại ñöôïc phaùp luaät baûo veä, tạo ra söï baát bình trong xaõ hoäi neân caàn phaûi xöû phaït bò caùo mức án thật nghiêm khắc nhaèm raên ñe giaùo duïc vaø phoøng ngöøa toäi phaïm chung cho toaøn xaõ hoäi. Mức án tù chung thân mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Hồng Tr; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Võ Hồng Tr phải chịu theo quy định.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Hồng Tr. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Hồng Tr phạm tội “Giết người”.
2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Hồng Tr tù chung thân; thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3/ Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Hồng Tr phải nộp 200.000 đồng.
4/ Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại thành phố Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - Cục THADS tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - Trại TG Công an tỉnh Cà Mau; “Để tống đạt cho bị cáo (2)); - Lưu: VP (3), HS (2), 15b. (ÁN 09) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Mười |