- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Mạnh Cường phạm tội Trốn thuế - phạm tội trốn thuế (điều 200 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ: Khoản 3, 4 Điều 200; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 200 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 501/2025/HS-ST Ngày: 22/7/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị Thái
Bà Phạm Thị Mai Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 382/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 382/2025/QĐXXST-HS ngày tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Bị cáo: ĐỖ MẠNH C - giới tính: Nam; Sinh ngày 29 tháng 8 năm 1986, Nơi cư trú: Tổ E, phường B, thành phố Hà Nội, ( địa chỉ cũ , phường B, quận L, thành phố Hà Nội;); Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Đỗ Văn D và con bà: Nguyễn Thị D1; Có vợ: Nguyễn Thị Thu H và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến ngày 09/12/2024, hiện bị can đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử (viết tắt là TMĐT) và theo dữ liệu từ cơ quan giám sát ngân hàng, các sàn TMĐT, Cục thuế thành phố H phát hiện trong thời gian từ năm 2017 đến nay trường hợp cá nhân Đỗ Mạnh C phát sinh hoạt động kinh doanh có thu nhập lớn trên các sàn thương mại điện tử nhưng không thực hiện kê khai, nộp thuế theo quy định. Ngày 17/6/2024, Cục thuế thành phố H chuyển tin báo có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra xác định:
Trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2024, Đỗ Mạnh C đã sử dụng thông tin cá nhân để đăng ký lập mở nhiều tài khoản trên các sàn kinh doanh thương mại điện tử gồm S, L, S1 để kinh doanh bán các loại điện thoại và phụ kiện điện thoại phát sinh doanh thu đặc biệt lớn, cụ thể:
(1) Trên sàn thương mại điện tử Shopee, Đỗ Mạnh C đăng ký lập mở, sử dụng 03 tài khoản với doanh thu của từng tài khoản như sau:
- Tài khoản có tên S2.vn và L1 mở từ năm 2017, có thông tin đăng ký dưới tên, thông tin cá nhân của Đỗ Mạnh C. Để nhận tiền thanh toán hàng hóa, C đăng ký sử dụng tài khoản ngân hàng liên kết là các tài khoản cá nhân của Đỗ Mạnh C gồm: tài khoản số 582286, 915866 và 582888888 (mở tại ngân hàng A2); tài khoản số: 1930686868, 59889999 (mở tại ngân hàng T8); tài khoản số: 0611001769928 (mở tại ngân hàng V2); Mượn tài khoản của bà Nguyễn Thị D1 (sinh năm 1965; Trú tại: Số F ngõ A N, phường B, quận L, Hà Nội - mẹ đẻ của C) gồm tài khoản số 185588 (mở tại ngân hàng T8), tài khoản số 68686806666 (mở tại ngân hàng V3) để nhận tiền thanh toán từ khách hàng. Tổng doanh thu do sàn thương mại điện tử S cung cấp, xác nhận: 359.795.547.538 đồng.
- Tài khoản có tên T (mở từ 09/10/2018) đăng ký sử dụng thông tin cá nhân của Đỗ Mạnh C. Để nhận tiền thanh toán, C đăng ký, sử dụng tài khoản ngân hàng liên kết là tài khoản cá nhân của C số 19027955381668 mở tại ngân hàng T8 để nhận tiền thanh toán của khách hàng. Tổng doanh thu do sàn thương mại điện tử cung cấp, xác nhận: 1.590.623 đồng.
- Tài khoản có tên bbshopmobile (mở từ 04/11/2020) đăng ký thông tin cá nhân Đỗ Mạnh C. Để nhận tiền thanh toán của khách hàng, C sử dụng tài khoản ngân hàng liên kết là tài khoản cá nhân của C gồm: tài khoản số 1400205248780 mở tại ngân hàng A3 và tài khoản ngân hàng mượn của bà Nguyễn Thị D1 (mẹ của C), số tài khoản: 68686806666 mở tại ngân hàng V3. Tổng doanh thu do sàn thương mại điện tử cung cấp, xác nhận là : 671.601.582 đồng.
Để che giấu doanh thu, tránh sự quản lý của cơ quan chức năng, mặc dù tài khoản kinh doanh đăng ký thông tin của Đỗ Mạnh C nhưng C nhờ, sử dụng tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thị D1 (mẹ đẻ của C) để nhận tiền thanh toán từ việc kinh doanh thương mại điện tử. Tổng số tiền C nhận được từ việc kinh doanh trên sàn TMĐT Shopee là 360.468.739.700 đồng.
(2) Trên sàn thương mại điện tử Lazada, Đỗ Mạnh C đăng ký lập, mở, sử dụng 01 tài khoản có tên S3.vn và linhphukien.vn mở từ 17/04/2019. Đăng ký dưới tên cá nhân Đỗ Mạnh C, sử dụng tài khoản ngân hàng số 0611001769928 mở tại Ngân hàng V2 của Đỗ Mạnh C để nhận tiền thanh toán của khách hàng. Tổng doanh thu từ việc kinh doanh trên sàn TMĐT Lazada là 7.574.091.624 đồng.
(3) Trên sàn thương mại điện tử Sendo, Đỗ Mạnh C đăng ký lập, mở, sử dụng 01 tài khoản có tên L1 từ 27/12/2017 đến nay. Tài khoản kinh doanh được đăng ký dưới tên Đỗ Mạnh C, sử dụng tài khoản ngân hàng số 0611001769928 mở tại ngân hàng V2 của Đỗ Mạnh C để nhận tiền thanh toán từ khách hàng. Tổng doanh thu từ việc kinh doanh trên sàn TMĐT Sendo là 213.956.991 đồng.
Ngoài sử dụng danh nghĩa cá nhân để đăng ký tài khoản trên các sàn thương mại điện tử để bán hàng, C còn thành lập 02 pháp nhân để đăng ký tài khoản hoạt động kinh doanh, bán hàng hóa (điện thoại, phụ kiện) trên các sàn kinh doanh thương mại điện tử gồm:
Công ty TNHH T9, mã số thuế: 0106848181, địa chỉ: số D phố H, phường Y, quận C, TP Hà Nội, do Đỗ Mạnh C làm Giám đốc, người đại diện pháp luật; công ty được thành lập tháng 05/2015 với ngành nghề bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông. Quá trình hoạt động, công ty K thuế không phát sinh doanh thu, không xuất hóa đơn bán hàng. Doanh nghiệp hiện đã bị cơ quan thuế ra thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh.
Công ty TNHH D2, MST: 0110106513, địa chỉ: số E ngõ C N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội; công ty được thành lập ngày 05/9/2022, ngành nghề kinh doanh đăng ký là bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông…Quá trình hoạt động, công ty có thực hiện nộp tờ khai thuế GTGT từ Quý 3/2022 đến Quý 2/2024, quyết toán thuế TNDN năm 2022, 2023, Báo cáo tài chính năm 2022, 2023. Tại các tờ khai có phát sinh doanh thu, phát sinh thuế TNDN phải nộp, không phát sinh thuế GTGT, thuế TNCN phải nộp.
Đỗ Mạnh C sử dụng pháp nhân Công ty TNHH T9 để đăng ký tài khoản kinh doanh trên sàn thương mại điện tử TIKI, phát sinh doanh thu từ ngày 06/3/2019 đến ngày 28/9/2022 là 1.567.407.259 đồng nhưng lại kê khai thuế là không phát sinh doanh thu.
Ngày 28/9/2022, C thay đổi đăng ký kinh doanh sử dụng pháp nhân của Công ty TNHH D2 để kinh doanh trên sàn thương mại điện tử TIKI, phát sinh doanh thu là 6.012.272 đồng.
Theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 92/2015/TT-BTC và Điều 2 Thông tư số 40/2021/TT- BTC của Bộ T10 thì việc kinh doanh, bán hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử nhận được số tiền trên 100.000.000 đồng mỗi năm thuộc trường hợp phải kê khai (thuế GTGT và thuế TNCN). Tuy nhiên cá nhân Đỗ Mạnh C không thực hiện nộp hồ sơ khai thuế là vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 44 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 92/2015/TT-BTC của Bộ T10; Cá nhân Đỗ Mạnh C không nộp hồ sơ khai thuế khi phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT và thuế TNCN, là hành vi trốn thuế theo quy định tại Khoản 1 Điều 108 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và Khoản 1 Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Căn cứ tài liệu xác minh, thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định việc chấp hành nghĩa vụ thuế của Đỗ Mạnh C trong việc kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, Giám định viên Cục thuế thành phố H kết luận số tiền thuế trốn là 5.523.851.826 đồng.
* Cơ quan điều tra thu giữ:
+ Ngày 15/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H tiến hành khám xét nơi ở của Đỗ Mạnh C tại tổ E, phường B, quận L, Hà Nội thu giữ gồm: 01 cây máy tính nhãn hiệu VSP, màu đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng; 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu ASUS, màu đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, tình trạng cũ, đã qua sử dụng, bị hỏng màn hình, vỡ mặt lưng vỏ; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu xanh, tình trạng cũ, đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu trắng, tình trạng cũ, đã qua sử dụng; 02 điện thoại Nokia màu đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng. + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20, số seri: RFCN80L4GEP, số Imei: 355611112838797, số I (esim): 355612112838795, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S23 Ultra, số seri: R5CW12QSPNK, số Imei (khe 1): 357822611238268, số Imei (khe B): 358710711238263, đã qua sử dụng.
+ 01 tập tài liệu gồm 43 tờ in A4 thể hiện nội dung hợp đồng, hóa đơn của công ty TNHH D2 mua hàng từ các đơn vị. * Tại cơ quan điều tra:
- Bị can Đỗ Mạnh C khai: Hàng hóa kinh doanh là điện thoại và phụ kiện được C mua gom từ nhiều cá nhân khác nhau, mua gom qua mạng xã hội, mua từ Công ty TNHH S5 và Công ty TNHH T11 sau đó đăng thông tin bán lại trên các sàn thương mại điện tử Tiki, S, S1, L. C có sử dụng tư cách cá nhân để kinh doanh các sản phẩm là điện thoại và phụ kiện điện thoại trên các sàn thương mại điện tử. Số tiền C trốn thuế là 5.523.851.826 đồng. Trong quá trình điều tra, nhằm che dấu thông tin, hành vi phạm tội, Đỗ Mạnh C đã đăng nhập tài khoản Google xóa, tiêu hủy dữ liệu liên quan đến việc bán hàng trên hai máy điện thoại được đối tượng sử dụng.
- Bà Nguyễn Thị D1 (là mẹ đẻ của bị can C) khai: Bà D1 không biết việc C sử dụng tài khoản của mình để nhận tiền thanh toán, kinh doanh, không biết C trốn thuế, không tham gia và không được hưởng lợi gì.
- Chị Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1992, trú tại 53/92 ngách E L, Văn C1, Đ, Hà Nội) và chị Nguyễn Thị Thùy D1 (sinh năm 1989, trú tại P Chung cư Đ, T, Hà Nội) là nhân viên bán hàng, kế toán Công ty TNHH D2 khai đều được C thuê để làm kế toán, bán hàng cho công ty, không biết, không tham gia, không được hưởng lợi gì từ việc C kinh doanh và trốn thuế. * Kết quả trưng cầu giám định thuế:
Ngày 25/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định số 11225/QĐ - CSKT về việc chấp hành nghĩa vụ thuế của cá nhân Đỗ Mạnh C trong việc kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử.
* Tại Bản kết luận giám định tư pháp của Cục T ngày 05/8/2024, kết luận:
- Về hành vi của Đỗ Mạnh C: Hành vi không nộp hồ sơ khai thuế khi phát sinh nghĩa vụ thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập cá nhân của Đỗ Mạnh C là hành vi trốn thuế theo quy định tại khoản 1 Điều 108 Luật quản lý Thuế số 78/2006/QH11 và khoản 1 Điều 143 Luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14.
- Về loại thuế và số thuế trốn:
Thuế GTGT: 161.943.617.197 x 1% = 1.619.436.172 đồng.
Thuế TNCN: 161.943.617.197 x 0,5% = 809.718.086 đồng.
Tổng cộng số thuế trốn là 2.429.154.258 đồng.
Ngày 03/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 2555/QĐ-CSKT về việc chấp hành nghĩa vụ thuế của Đỗ Mạnh C, Công ty TNHH T12 (MST: 0106848181, địa chỉ: Số D H, Y, Cầu G, Hà Nội) và Công ty TNHH D2 (MST: 0110106513, địa chỉ: Số E ngõ C N, L, Đ, Hà Nội) trong việc kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử.
*Tại Bản kết luận giám định tư pháp bổ sung của Cục thuế thành phố H Ngày 24/4/2025 kết luận: Căn cứ hồ sơ tài liệu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H cung cấp tại thời điểm trưng cầu giám định; Căn cứ vào các quy định pháp luật về thuế có liên quan có hiệu lực thi hành trong thời kỳ giám định (từ năm 2017 đến năm 2024);
1. Đỗ Mạnh C phát sinh hoạt động kinh doanh, bán hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử từ năm 2017 đến năm 2024 nhưng Đỗ Mạnh C không thực hiện nộp hồ sơ khai thuế là vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 44 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 92/2015/TT-BTC của Bộ T10; Cá nhân Đỗ Mạnh C không nộp hồ sơ khai thuế khi phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT và thuế TNCN, là hành vi trốn thuế theo quy định tại Khoản 1 Điều 108 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và Khoản 1 Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14.
2. Số tiền thuế trốn:
- Thuế GTGT: 368.256.788.358 x 1% = 3.682.567.884 đồng.
- Thuế TNCN: 368.256.788.358 x 0,5% = 1.841.283.942 đồng.
Tổng cộng số thuế trốn là 5.523.851.826 đồng.
Ngày 20/8/2024, Đỗ Mạnh C đã tự nguyện khắc phục hậu quả số tiền trốn thuế là 2.429.154.258 đồng và tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả, ngày 08/11/2024 gia đình Đỗ Mạnh C đã nộp thêm tiền để khắc phục hậu quả là 3.900.000.000 đồng. Tổng số tiền Đỗ Mạnh C và gia đình đã khắc phục hậu quả số tiền trốn thuế là 6.329.154.258 đồng.
3. Đối với Công ty TNHH T9 và Công ty TNHH D2 có hành vi trốn Thuế GTGT và Thuế TNDN tuy nhiên chưa đủ cơ sở xác định số tiền thuế trốn. Cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc đối với các đối tượng có phát sinh giao dịch đối với Đỗ Mạnh C gồm: Nguyễn Công S4 (sinh năm 1986, địa chỉ: T, C, S, Hà Nội), Nguyễn Mạnh T2 (sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ B phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên), Nguyễn Ngọc B (sinh năm 1994, địa chỉ: số A ngõ I T, L, H, Hà Nội), Phạm Đức P (sinh năm 1991, trú tại N, N, L, Hà Nội). Những người này khai là bạn của Đỗ Mạnh C, được Đỗ Mạnh C nhờ nhận hàng hóa là điện thoại, phụ kiện tại nhà hoặc cửa hàng, nhận thanh toán hộ Đỗ Mạnh C cho các cá nhân vận chuyển hàng “shipper” và giao lại hàng hóa cho Đỗ Mạnh C. Những người này không góp vốn cùng kinh doanh với C, không được hưởng lợi, không biết việc C kinh doanh nhưng không kê khai nộp thuế, trốn thuế. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với các cá nhân trên.
Đối với Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Thị Thùy D1. Quá trình điều tra xác định hai cá nhân này chỉ được C thuê để làm kế toán, bán hàng cho công ty theo sự chỉ đạo của C, không biết, không được hưởng lợi từ việc Đỗ Mạnh C kinh doanh dưới tư cách cá nhân, chỉ làm công và được trả lương, không tham gia việc trốn thuế từ kinh doanh thương mại điện tử cùng Đỗ Mạnh C, do đó không có căn cứ để xem xét xử lý đối với Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Thị Thùy D1.
Đối với bà Nguyễn Thị D1 (sinh năm 1965 là mẹ đẻ của C) không biết C sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để nhận tiền thanh toán từ việc kinh doanh, bà D1 không biết việc C trốn thuế, không tham gia và không được hưởng lợi từ việc C sử dụng tài khoản nên không đủ căn cứ để xử lý đối với bà D1.
Cáo trạng số: 339/CT-VKS-P3 ngày 04/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Mạnh C ra trước Toà án nhân dân thành phố Hà Nội để xét xử về tội Trốn thuế, quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 200; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tội danh: Bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội “Trốn thuế”.
Hình phạt: Phạt bị cáo Đỗ Mạnh C từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thại va máy tính đã thu của bị cáo. Sung quỹ Nhà nước số tiền bị cáo trốn thuế đã nộp vào tài khoản Cục Thi hành án dân sự TP. Hà Nội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
.Về nội dung:
Về tội danh và hình phạt áp dụng với bị cáo:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2024, Đỗ Mạnh C đã sử dụng thông tin cá nhân để đăng ký lập, mở nhiều tài khoản trên các sàn thương mại điện tử gồm S, L, S1, T3 để kinh doanh bán các loại điện thoại và phụ kiện điện thoại. Cá nhân Đỗ Mạnh C không nộp hồ sơ kê khai thuế khi phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT và thuế TNCN nhằm mục đích trốn thuế. Kết quả điều tra xác định tổng doanh thu của C trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2024 thông qua các sàn thương mại điện tử là 368.256.788.358 đồng. Cơ quan thuế giám định số tiền trốn thuế GTGT là 3.682.567.884 đồng và trốn thuế TNCN là 1.841.283.942 đồng. Đỗ Mạnh C đã có hành vi trốn thuế với số tiền là 5.523.851.826 đồng. Quá trình điều tra từ ngày 20/8/2024 đến ngày 08/11/2024, can C và gia đình đã khắc phục hậu quả số tiền trốn thuế là 6.329.154.258 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nướcvề quản lý thu thuế cho Nhà nước, gây thiệt hại về vật chất của Nhà nước trong việc thu nộp ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến Ngân sách Nhà nước. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế”, theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự, VKSND.TP Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét:
Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Bị cáo không thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước số tiền trốn thuế lớn theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự là phạm tội nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, tuy nhiên trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tự nguyện thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nên toàn bộ thiệt hại đối với Ngân sách Nhà nước đã được khắc phục hoàn toàn vì vậy mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã được giảm tối đa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã nộp tiền thuế để khắc phục hậu quả, bị cáo có bố đẻ có công với Nhà nước được tặng huy chương kháng chiến vì vậy áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, cho bị cáo hưởng án treo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo sung quỹ Nhà Nước.
[3.] Các vấn đề khác:
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ các đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà Nước.
Về án phí: Bị cáo tuyên có tội nên phải chịu án phí theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ: Khoản 3, 4 Điều 200; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
[2].Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội “Trốn thuế”.
Hình phạt chính: Phạt bị cáo Đỗ Mạnh C 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Mạnh C cho UBND phường B, TP Hà Nội. giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách của án treo, trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 50.000.000đ sung quỹ Nhà nước
[3].Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 48 Bộ luật hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20, số seri: RFCN80L4GEP, số Imei: 355611112838797, số I (esim): 355612112838795, đã qua sử dụng.
01 điện thoại di động Samsung Galaxy S23 Ultra, số seri: R5CW12QSPNK, số Imei (khe 1): 357822611238268, số Imei (khe B): 358710711238263, đã qua sử dụng.
01 cây máy tính nhãn hiệu VSP, màu đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng.
01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu ASUS, màu đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, tình trạng cũ, đã qua sử dụng, bị hỏng màn hình, vỡ mặt lưng vỏ.
01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu xanh, tình trạng cũ, đã qua sử dụng.
01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu trắng, tình trạng cũ, đã qua
sử dụng.
02 điện thoại N1 màu đen, tình trạng cũ, đã qua sử dụng.
(Vật chứng chi tiết được bàn giao cho Cục thi hành án dân sự TP. Hà Nội
theo Biên bản giao vật chứng giữa C2 và Cục T ngày 13/6/2025).
Sung quỹ nhà nước của bị cáo số tiền 5.523.851.826 đồng đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1052728.0000 của Cục thi hành án dân sự TP. Hà Nội).
Đối trừ tiền số tiền bị cáo đã nộp trả lại cho bị cáo số tiền 755.302.432đ
( T4 đã được nộp vào tài khoản 3949.0.1052728.00000 của Cục Thi hành án dân sự TP. Hà Nội mở tại phòng G Kho bạc Nhà nước khu vực I-0026 ngày 12/6/2025 )
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, 3 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo. - TAND cấp cao tại Hà Nội; -VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội (P3); - Công an TP. Hà Nội; - Cục T.H.A DS TP. Hà Nội; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Nơi cư trú của BC. - Lưu, lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vũ Thị Thu Thủy |