- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Minh H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? nhận kháng cáo của à Trần Thị Thu H1, giữ nguyên phần Quyết định về trách
- Căn cứ chính? Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 501/2023/HS-PT Ngày: 24-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Thi
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Long
Ông Phạm Việt Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Định, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số
477/2023 TL T-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với ị cáo Võ Thị Minh H
về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của ngư i ị hại đối với
Bản án hình sự s thẩm số 65 2023 HS-ST ngày 24 8 2023 của Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Định.
Bị cáo ị kháng cáo:
Võ Thị Minh H, sinh năm: 1963 tại tỉnh Quảng Ngãi; n i ĐKNKTT: B N,
phư ng N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học
vấn (văn hóa): 10 12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch:
Việt Nam; con ông: Vũ Đình B (Chết) và à hạm Thị C (Chết); chồng: ông
Nguyễn Đ, sinh năm 1963, con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất
sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không. Bị ắt tạm giữ, tạm giam ngày
26 7 2022, vắng mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Thị Minh H:
+ Ông Trần Công L - Luật sư hoạt động tại Văn phòng L2 thuộc đoàn
Luật sư tỉnh B. Địa chỉ: H M, thành phố Q, tỉnh Bình Định, vắng mặt
+ Ông Nguyễn Ngọc Quốc L1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Địa chỉ: G T, thành phố Q, tỉnh Bình Định, có mặt
- Bị hại:
1. Bà Trần Thị Thu H1, sinh năm: 1975. Trú tại: A D, phư ng N, thành
phố Q, tỉnh Bình Định, vắng mặt
2. Bà hạm Thị Ái D, sinh năm: 1993. Trú tại: H Ỷ, phư ng T, thành phố
Q, tỉnh Bình Định, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Võ Thị Minh H làm nghề đại lý uôn án vé số kiến thiết. Quá trình kinh
doanh, do mất cân đối trong chi tiêu nên H phải vay mượn tiền ên ngoài của nhiều ngư i. Đến năm 2021, vợ chồng H đã thế chấp nhà và đất đang ở cho Ngân hàng V để vay số tiền 8,7 tỷ đồng, sau đó đem trả nợ cho nhiều ngư i. Từ đầu tháng 3 2022, để có tiền trả nợ, H đã nhiều lần đưa ra lí do cần tiền đáo hạn ngân hàng, nộp tiền cho công ty X để vay tiền của ngư i này rồi trả nợ cho ngư i khác. Đến cuối tháng 3 2022, Ngô Thị Vũ H2 (Sinh năm: 1986; trú tại: Căn số A tầng B chung cư , đư ng L, T ., Bình Định; th i điểm đó là Trưởng phòng G - Ngân hàng V Chi nhánh B3) có nói cho H iết về chư ng trình cho vay ưu đãi lãi suất của ngân hàng V, nên H có ý định muốn trả nợ trước hạn các khoản vay cũ vay lại khoản mới theo chư ng trình ưu đãi lãi suất. Tuy nhiên, th i điểm này cũng sắp đến hạn trả nợ cho các cá nhân mà H đã vay trước đó nên H nảy sinh ý định đưa ra thông tin gian dối về việc vay tiền đáo hạn ngân hàng để vay tiền của ngư i khác rồi chiếm đoạt, dùng tiền vay được trả nợ cho những cá nhân đã vay trước đó. Cụ thể như sau:
1. Vay của à Trần Thị Thu H1 (Sinh năm 1975; trú tại: A D, P.N, TP .,
Bình Định) số tiền 4,5 tỷ đồng: Giữa Võ Thị Minh H và à Trần Thị Thu H1 không có mối quan hệ quen iết trước đó. Khoảng 09h00’ ngày 22 3 2023, thông qua giới thiệu, H có số điện thoại và tự liên hệ với H1, đề nghị vay tiền. Sau đó khoảng 20 phút, vợ chồng à H1, ông Đỗ Quang T (Sinh năm 1975) đến nhà của H để trao đổi. Tại đây, H đề nghị vay 4,5 tỷ đồng, nói dối mục đích vay tiền là để đáo hạn ngân hàng, th i hạn vay là 03 ngày. Vợ chồng H1 đồng ý rồi lấy mẫu giấy mượn tiền in sẵn đưa cho H viết theo nội dung trên. Sau khi H viết giấy mượn tiền và ký tên xong, ông T cầm giấy đưa cho ông Nguyễn Đ (Chồng của H) xem và ký tên. Sau đó, H1 yêu cầu H chuyển trước 20 triệu tiền lãi vào số 107800925799 tại Ngân hàng V của H1. Đến 14h18’ cùng ngày, H1 đến hòng G, nộp số tiền mặt 4,5 tỷ đồng vào tài khoản số 105873287724 tại Ngân hàng V của Võ Thị Minh H. Sau khi có được tiền, H không thực hiện việc đáo hạn như thỏa thuận, mà chiếm đoạt số tiền 4,5 tỷ đồng, dùng để trả nợ cho 03 cá nhân đã cho H vay trước đó. Như vậy, sau khi trừ số tiền 20 triệu đồng tiền lãi H đã chuyển cho à H1, Võ Thị Minh H còn chiếm đoạt của Trần Thị Thu H1 số tiền 4.480.000.000 đồng.
2. Vay của à hạm Thị Ái D (Sinh năm 1993; trú tại H Ỷ, .T, T .,
Bình Định) số tiền 03 tỷ đồng: Giữa Võ Thị Minh H và à D, à Cao Thị T1 (Là mẹ chồng à D; sinh năm 1965; trú tại H Ỷ, T ., Bình Định) không có quan hệ quen iết từ trước. Sáng ngày 23 3 2023, thông qua giới thiệu, H có số điện thoại và liên hệ với à T1 để hỏi vay tiền đáo hạn ngân hàng, rồi hẹn đến nhà để trao đổi. Khoảng 30 phút sau, H đến nhà gặp à T1 và à D, đề nghị vay 03 tỷ đồng, nói dối mục đích vay tiền là để đáo hạn ngân hàng, hẹn ngày 24/3/2022 sẽ
trả nợ. Lúc này, à T1 nói D tự trao đổi với H để cho vay tiền nên D đưa mẫu
giấy mượn tiền in sẵn cho H viết và ký tên trên giấy mượn tiền. Sau đó, D thực
hiện giao dịch chuyển tiền qua dịch vụ Internet anking đến số tài khoản
105873287724 tại Ngân hàng V của Võ Thị Minh H 02 lần, với tổng số tiền 03
tỷ đồng như thỏa thuận. Sau khi có được tiền, H không thực hiện việc đáo hạn
như thỏa thuận, mà chiếm đoạt tiền số tiền 03 tỷ đồng, dùng để trả nợ cho 01 cá
nhân đã cho H vay trước đó.
Như vậy, trong th i gian từ ngày 22 3 2022 đến ngày 24 3 2022, Võ Thị
Minh H đã 02 lần vay tiền của à Trần Thị Thu H1 và à hạm Thị Ái D, với
tổng số tiền 7.500.000.000 đồng, đã trả lại cho à H1 20 triệu đồng, còn chiếm
đoạt của các ị hại tổng số tiền 7.480.000.000 đồng.
* Kết quả giám định, định giá tài sản:
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 44 ngày 30 6 2022 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định, kết luận: Ngôi nhà và đất
tại số nhà B N, . N, Tp ., tỉnh Bình Định (Đã thế chấp cho Ngân hàng V vay
8,7 tỷ đồng) có tổng giá trị là 9.926.781.000 đồng.
- Tại Kết luận giám định số 149 ngày 16 5 2022 của hòng K2 Công an
tỉnh B, kết luận: Chữ ký tên Nguyễn Duy K trong giấy mượn tiền đề ngày
22 3 2022 của ông Đỗ Quang T và à Trần Thị Thu H1; Chữ viết, chữ ký tên
Nguyễn Duy K trong giấy Hợp đồng đặt cọc đề ngày 22 3 2022; Chữ ký tên
Nguyễn Duy K trong giấy Hợp đồng cho vay tiền của Phạm Thị Ái D đề ngày
23 3 2022 là do Nguyễn Duy K viết và ký ra.
- Tại Kết luận giám định số 260 ngày 21 7 2022 của hòng K2 Công an
tỉnh B, kết luận: Chữ ký, chữ viết tên “Nguyễn Đ” dưới mục “Chồng” trong
Giấy mượn tiền của ông Đỗ Quang T và à Trần Thị Thu H1 đề ngày 22 tháng 3
năm 2022 là do Nguyễn Đức k và viết ra.
* Vật chứng vụ án đã thu giữ gồm (Không đi kèm hồ s vụ án):
- 01 (một) điện thoại di động hiệu N 6303i classic số sê ri:
353402045878528, gắn sim Vina hone 89840 20005 00040 11140;
- Tiền Ngân hàng N1: 3.440.449.647 (Ba tỷ ốn trăm ốn mư i triệu ốn
trăm ốn mư i chín nghìn sáu trăm ốn mư i ảy đồng).
* Về dân sự: Các ị hại Trần Thị Thu H1, hạm Thị Ái D yêu cầu ị can
Võ Thị Minh H phải trả lại toàn ộ số tiền 7.480.000.000 đồng mà H đã chiếm
đoạt. Đến nay, ị can H và gia đình đã tự nguyện giao nộp số tiền 3.440.449.647
đồng để ồi thư ng, khắc phục cho các ị hại.
T nh ng nội dung đã đ c xác đ nh nêu trên, t i B n án hình s s
thẩm s 65/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân t nh Bình Đ nh
đã quy t đ nh:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Thị Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Võ Thị Minh H 07 (B1) năm tù về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/7/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Võ Thị Minh H phải trả cho vợ
chồng bà Trần Thị Thu H1, ông Đỗ Quang T 4.480.000.000 đồng và bà hạm Thị Ái D 3.000.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho vợ chồng bà H1, ông T và bà D 3.440.449.647 đồng (Số tiền 3.440.449.647 đồng vợ chồng bà H1, ông T được nhận 1/2, bà D được nhận 1/2. Vợ chồng bà H1, ông T được nhận 1.720.224.823 đồng và bà D được nhận 1.720.224.823 đồng). Do đó, bị cáo còn phải tiếp tục trả cho cho vợ chồng bà H1, ông T 2.759.775.177 (Hai tỷ bảy trăm năm mươi chín triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm bảy mươi bảy) đồng và trả cho bà D 1.279.775.177 (Một tỷ hai trăm bảy mươi chín triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm bảy mươi bảy) đồng.
Ngoài ra, Bản án s thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự,
phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Sau khi xét xử s thẩm, ngày 06 9 2023 à Trần Thị Thu H1 có đ n kháng cáo, lý do kháng cáo à H1 cho rằng Tòa án cấp s thẩm đã chia hai số tiền ồi thư ng, khắc phục trong vụ án cho 02 ị hại là không đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án s thẩm, giải quyết cho à H1 được nhận hết số tiền ồi thư ng, khắc phục nêu trên hoặc nhận 2 3 số tiền nêu trên. Tại phiên toà phúc thẩm, à B2 Trần Thị Thu H1 giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát iểu quan điểm đối với vụ án như sau:
- Về tố tụng, Hội đồng xét xử, những ngư i tiến hành và tham gia tố tụng
khác đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Về nội dung, sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của à Trần Thị Thu H1, sửa Bản án s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào Bản án s thẩm các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án và
kết quả tranh tụng tại phiên toà, xem xét kháng cáo của à Trần Thị Thu H1, Hội đồng xét xử, xét thấy:
. Về tố tụng: Kháng cáo của à Trần Thị Thu H1 là hợp lệ, ngư i
kháng cáo đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm , khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt đối với ngư i kháng cáo theo như đề nghị của K1 sat viên tham gia phiên tòa.
. Về trách nhiệm hình sự: Do kinh doanh thua lỗ và mất cân đối trong
chi tiêu sinh hoạt gia đình dẫn đến không có khả năng thanh toán, trả nợ cho các
chủ nợ, nên từ ngày 22 3 2022 đến ngày 24 3 2022, Võ Thị Minh H đã đưa ra
thông tin gian dối về việc vay tiền để làm thủ tục đáo hạn ngân hàng trong th i
gian ngắn, làm cho các ị hại à Trần Thị Thu H1 và à hạm Thị Á Diễm tin
tưởng, cho ị cáo vay tiền, à H3 cho ị cáo H vay số tiền 4.480.000.000 đồng,
à D đã cho ị cáo H vay 3.000.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được được
tiền ị cáo Võ Thị Minh H đã sử dụng để trả nợ cho những ngư i mà ị cáo đã
vay tiền trước đó, hành vi nêu trên của ị cáo Võ Thị Minh H đã ị Toà án cấp
s thẩm đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, xét xử ị cáo
về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt ị cáo Võ Thị Minh H 07 năm tù,
sau khi xét xử s thẩm, ị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng
nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Xem xét kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của à Trần Thị Thu H1, xét
thấy, sau khi ị cáo Võ Thị Minh H đã chiếm đoạt tiền của các ị hại, trong quá
trình điều tra ị cáo đã nộp số tiền 3.440.449.647 đồng để ồi thư ng, khắc phục
hậu quả chung cho các ị hại, tại Bản án s thẩm đã chia hai số tiền nói trên cho
02 ngư i ị hại là hợp lý, phù hợp Điều 48 Bộ luật Hình sự; 106 Bộ luật Tố tụng
dân sự cũng như căn cứ phát sinh trách nhiệm ồi thư ng thiệt hại và nguyên tắc
ồi thư ng thiệt hại theo quy định tại các Điều 584, 585 Bộ luật dân sự, các
khoản tiền ị cáo còn phải trả cho à H1, à D Tòa án cấp s thẩm cũng đã xác
định và tuyên uộc ị cáo phải tiếp tục trả cho các ị hại đầy đủ, không làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của các ị hại hoặc sẽ gặp khó khăn trong hoạt động thi
hành án, việc à Trần Thị Thu H1 kháng cáo cho rằng tại Bản án s thẩm không
áp dụng Điều 47 Luật Thi hành án dân sự và Điều 49 Nghị định số 62 2015
NĐ-C ngày 18 7 2015 của Chính phủ là không đúng, các quy định trên chỉ áp
dụng khi thi hành các ản án đã có hiệu lực pháp luật, không phải là quy định
ắt uộc phải áp dụng trong hoạt động xét xử. Mặc khác, à H1 kháng cáo yêu
cầu được nhận hết hoặc được nhận 2 3 số tiền đang tạm giữ cũng không phù hợp
theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự và Điều 49 Nghị định số
62 2015 NĐ-C ngày 18 7 2015 của Chính phủ.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của à Trần Thị Thu H1, giữ nguyên phần Quyết định về trách nhiệm
dân sự tại Bản án s thẩm.
. Do không chấp nhận kháng cáo nên à Trần Thị Thu H1 phải chịu án
phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
. Các quyết định khác của Bản án s thẩm về tội danh, hình phạt đối
với ị cáo Võ Thị Minh H; xử lý vật chứng; án phí s thẩm cũng như quyền và
nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không
xem xét.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp
nhận kháng cáo của à Trần Thị Thu H1, giữ nguyên phần Quyết định về trách
nhiệm dân sự tại Bản án s thẩm.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; 106 Bộ luật Tố tụng dân sự các Điều
584, 585, 586 Bộ luật dân sự.
Xử:
1. Về trách nhiệm dân sự: Buộc ị cáo Võ Thị Minh H phải trả cho vợ
chồng à Trần Thị Thu H1, ông Đỗ Quang T 4.480.000.000 đồng và à hạm Thị Ái D 3.000.000.000 đồng.
2. Đối với số tiền 3.440.449.647 đồng ị cáo Võ Thị Minh H ồi thư ng
khắc phục hậu quả (Theo ủy nhiệm chi số 10/2023 ngày 13/7/2023 đơn vị nhận tiền Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định). Bà Trần Thị Thu H1 và ông Đỗ Quang T được nhận ½, tư ng ứng số tiền 1.720.224.800 đồng (Một tỷ, bảy trăm hai mươi triệu, hai trăm hai mươi bốn nghìn, tám trăm đồng); à hạm Thị Ái D được nhận ½, tư ng ứng số tiền 1.720.224.800 đồng(Một tỷ, bảy trăm hai mươi triệu, hai trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm đồng), (đã làm tròn số).
3. Bị cáo Võ Thị Minh H còn phải tiếp tục trả cho cho vợ chồng à H1,
ông T 2.759.775.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm năm mươi chín triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); trả cho à D 1.279.775.000 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi chín triệu, bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)(đã làm tròn số).
4. Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.440.449.647 (Ba tỷ bốn trăm bốn mươi triệu
bốn trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi bảy) để thi hành án.
5.Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23, Điều 29 Nghị quyết
326 2016 UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy an thư ng vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, à Trần Thị Thu H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, à H1 đã nộp đủ tại Biên lai số 0000371, ngày 18 9 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.
6. Các quyết định khác của Bản án s thẩm về tội danh, hình phạt, xử lý
vật chứng, án phí s thẩm cũng như quyền và nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
N i nhận:
| - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Bình Định; - C quan CSĐT-Công an tỉnh Bình Định; - hòng HSNV- Công an tỉnh Bình Định; - C quan CSTHAHS-CA tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Cục THADS tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Ngư i tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, HCT , LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Công Thi |