- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Mười H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 501/2022/HS-PT Ngày: 05-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy.
Các Thẩm phán: 1. Ông Vũ Hoài Nam
2. Ông Nguyễn Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 445/2022/HSPT ngày 31 tháng
10 năm 2022, đối với bị cáo Ngô Văn Mười H, do có kháng cáo của bị cáo đối
với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân
dân huyện CG, Thành phố H.
Bị cáo có kháng cáo:
Ngô Văn Mười H, sinh ngày 29/6/1975 tại tỉnh TG, Giới tính: Nam; Hộ
khẩu thường trú: 2/270 tổ 2 ấp ĐH, xã LH, huyện CG, Thành phố H; Nghề
nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn N, sinh năm: không
rõ (đã chết); Con bà: Lê Thị M, sinh năm: không rõ (đã chết); Vợ: Nguyễn Ngọc
L, sinh năm: 1976 và có 1 con sinh năm: 1995; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại
ngoại (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Minh T và Phan Văn D
không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 28/01/2022, sau khi liên hệ với nhau qua điện thoại
Ngô Văn Mười H điều khiển ghe bằng gỗ, gắn máy D8 đến khu vực gần bến đò ĐH thuộc ấp ĐH, xã LH, huyện CG để chở Phan Văn D và Nguyễn Minh T đi đến địa điểm nuôi hàu trên sông Đồng Tranh 2 thuộc ấp TĐ, xã LN, huyện CG, Thành phố H của anh Nguyễn Văn P để trộm cắp hàu. Sau khi đến địa điểm trên, Mười H đậu ghe tại địa điểm nuôi hàu của Mười H, giáp ranh với địa điểm nuôi hàu của ông P, rồi T và D nhảy xuống sông bơi qua địa điểm nuôi hàu của ông P lấy trộm hàu bỏ vào bao lưới màu xanh do T và D đã chuẩn bị trước đó. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi T và D đang thực hiện hành vi trộm cắp thì bị ông P phát hiện nên trình báo Công an xã LH, huyện CG.
Quá trình điều tra đã xác định, ngoài lần trộm cắp hàu nêu trên, trước đó
Ngô Văn Mười H, Nguyễn Minh T và Phan Văn D đã 4 lần thực hiện hành vi trộm cắp hàu của ông P ở cùng địa điểm và thực hiện với phương thức, thủ đoạn như trên. Sau đó Mười H chở T và D cùng số hàu trộm cắp được về bến đò ĐH, rồi Mười H đi cất ghe, còn T và D đem hàu bán cho Võ Văn Ni A để lấy tiền chia nhau tiêu xài, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào ngày 20/01/2022, trộm cắp 127,5 kg hàu, loại khoảng 10
con/kg, lớn nhỏ khác nhau, rồi đem đi bán với giá 20.000 đồng/kg, được số tiền 2.550.000 đồng, chia mỗi người 850.000 đồng.
Lần thứ H: Vào ngày 22/01/2022, trộm cắp 135 kg hàu, loại khoảng 10
con/kg, lớn nhỏ khác nhau, rồi đem đi bán với giá 20.000 đồng/kg, được số tiền 2.700.000 đồng, chia mỗi người 900.000 đồng.
Lần thứ ba: Vào ngày 24/01/2022, trộm cắp 165 kg hàu, loại khoảng 10
con/kg, lớn nhỏ khác nhau, rồi đem đi bán với giá 20.000 đồng/kg, được số tiền 3.300.000 đồng, chia mỗi người 1.100.000 đồng.
Lần thứ tư: Vào ngày 26/01/2022, trộm cắp 112,5 kg hàu, loại khoảng 10
con/kg, lớn nhỏ khác nhau, rồi đem đi bán với giá 20.000 đồng/kg, được số tiền 2.250.000 đồng, chia mỗi người 750.000 đồng.
Tại Biên bản định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS, ngày 24 tháng 02 năm
2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện CG kết luận số hàu trộm cắp ngày 28/01/2022 có giá trị 560.000 đồng.
Biên bản định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS, ngày 09 tháng 6 năm 2022
của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện CG kết luận số hàu trộm cắp như sau: ngày 20/01/2022 có giá trị 2.677.500 đồng; ngày 22/01/2022 có giá trị 2.835.000 đồng; ngày 24/01/2022 có giá trị 3.465.000 đồng; ngày 26/01/2022 có giá trị 2.362.500 đồng
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 24/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án
nhân dân huyện CG, Thành phố H đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Ngô Văn Mười H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo
còn lại, xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/10/2022 bị cáo Ngô Văn Mười H có đơn
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Ngô Văn Mười H trình bày: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm
tội như Bản án sơ thẩm đã xác định, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong
gia đình có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Với
các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Ngô Văn
Mười H tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng
người, đúng tội. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án
tiền sự, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, hiện là lao động chính trong gia đình,
ngoài ra các bị cáo còn tự khai nhận thêm những lần phạm trước, mặc dù vật
chứng không còn, bị hại cũng không biết, nên được xem là tình tiết giảm nhẹ
thuộc trường hợp người phạm tội tự thú, nên đề nghị áp dụng điểm b, r, s khoản
1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức án 9
tháng tù nhưng cho bị cáo bị cáo được hưởng án treo cũng phù hợp với tính chất,
mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo Ngô Văn Mười H không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị
cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
được hưởng án treo có điều kiện được làm việc nuôi gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Văn Mười H tại phiên tòa
cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Vào lúc
18 giờ ngày 28/01/2022 tại địa điểm nuôi hàu trên sông Đồng Tranh 2 thuộc ấp
Tân Điền, xã Lý Nhơn, huyện CG, Ngô Văn Mười H đã đậu ghe tại địa điểm
nuôi hàu của bị cáo giáp ranh với địa điểm nuôi hàu của ông Nguyễn Văn P, để
cho Phan Văn D và Nguyễn Minh T nhảy xuống sông bơi qua địa điểm nuôi hàu
của ông P lén lút chiếm đoạt hàu bỏ vào bao lưới đã chuẩn bị trước đó, thì bị P
phát hiện trình báo Công an, trị giá số hàu bị chiếm đoạt là 560.000 đồng. Trước
đó vào các ngày 20/01/2022, 22/01/2022, 24/01/2022 và 26/01/2022, với thủ
đoạn như trên, các bị cáo cũng đã chiếm đoạt hàu của ông P trị giá 11.340.000
đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp của ông P là 11.900.000 đồng.
Như vậy hành vi của bị cáo Ngô Văn Mười H đã phạm vào tội “Trộm cắp
tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Mười H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngoài ra, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Mặt khác, các bị cáo còn tự khai nhận thêm những lần phạm trước, mặc dù vật chứng không còn, bị hại cũng không biết, nên được xem là tình tiết giảm nhẹ thuộc trường hợp người phạm tội tự thú. Ngoài ra, bị cáo Ngô Văn Mười H chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cung cấp thêm xác nhận hiện nay có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo là lao động chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng.
Hội đồng xét xử xét thấy tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội có phần
hạn chế, trình độ nhận thức pháp luật thấp, mức án 9 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, tuy nhiên bản thân bị cáo từ khi được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật, thể hiện sự ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo và việc bắt giam bị cáo là không thật sự cần thiết.
Với các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên, xét thấy mức hình phạt mà Tòa
án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo Ngô Văn Mười H là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, nên Hội đồng xét xử xét thấy cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Mười H và sửa bản án hình sự sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo Ngô Văn Mười H không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Mười H và sửa Bản án sơ thẩm
số 24/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện CG, Thành phố H.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017:
Xử phạt bị cáo Ngô Văn Mười H 9 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài
sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (một) năm 6 (sáu) tháng
tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Ngô Văn Mười H cho Ủy ban nhân dân xã LH, huyện CG,
Thành phố H quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo
Ngô Văn Mười H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 của
Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án
có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc
người đó phải chấp hành hình phạt của bán án trước và tổng hợp với hình phạt
của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của của Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Ngô Văn Mười H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.
| Nơi nhận: - TANDTC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; (3) - VKSND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - P.PV06 - CA TP.HCM; (1) - TAND huyện CG; (1) - VKSND huyện CG; (1) - Công an huyện CG; (1) - Chi cục THADS huyện CG; (1) - Bị cáo; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (20). (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Uyên Thy |