- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 14, Điều 55 và Điều
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 501/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30/11/2022 |
HUYỆN AN PHÚ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lê Bích Loan; 2/ Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên. Trong ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 430/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 755/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1996 - địa chỉ: Tổ 38, ấp VH, xã V, huyện An Phú, tỉnh An Giang. - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1998 - địa chỉ: Tổ 38, ấp VH, xã V, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Bà X có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà X trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã V vào ngày 11/4/2017. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên gần đây thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, cả hai đã không chung sống từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian không chung sống hai bên gia đình cũng có động viên hàn gắn lại tình cảm gia đình nhưng bà X không đồng ý. Nay cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn.
Con chung: Nguyễn Hưng T1 , sinh ngày 01/9/2016. Hiện cháu sống với ông T. Nếu ly hôn bà X không yêu cầu nuôi con, xin không cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các Thông báo thụ lý, hòa giải cũng như thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T theo quy định nhưng ông không tham gia hoà giải và không có ý kiến. Kết quả xác minh tình trạng cư trú của ông T tại Công an xã V thể hiện: Ông T vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng hiện tại đi đâu, làm gì thì không rõ. Kết quả xác minh tình trạng mâu thuẫn, được ông Nguyễn Minh Đ, cậu bà X cung cấp: Việc bà X và ông T có mâu thuẫn, sau đó ly hôn gia đình đều biết nhưng lý do là gì thì không rõ, chỉ nghe bà X nói là không hợp nhau. Tại phiên tòa, bà X có đơn xin xét xử vắng mặt và bảo lưu ý kiến. Ông T vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung. Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong quá trình hòa giải, xác minh thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, tại phiên tòa thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo. Về nội dung vụ án: - Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân giữa bà X và ông T có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X. - Về con chung: Không ghi nhận được ý kiến của con nhưng bà X đồng ý giao con chung đang sống với cha cho ông T tiếp tục nuôi dạy, ông T cũng không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung cho ông T. Về cấp dưỡng: Do không ghi nhận được ý kiến của ông T nên sẽ giải quyết trong vụ án khác khi ông T yêu cầu. - Về tài sản chung, nợ chung: Do bà X không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về án phí: Bà X phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị X khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Ông T có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, bà X có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà X và ông T có đăng ký kết hôn theo quy định nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu của bà X xin ly hôn với ông T thì thấy: Trong đời sống hôn nhân giữa hai bên thường hay phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp và cả hai đã không còn chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay, thời gian không chung sống bà X không có ý định tiếp tục hôn nhân; tại các phiên hoà giải bà X vẫn kiên quyết ly hôn; ông T vắng mặt không tham gia các phiên hoà giải để tìm biện pháp hàn gắn lại tình cảm vợ chồng mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các Thông báo tố tụng của Tòa án về nội dung và yêu cầu khởi kiện của bà X. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà X và ông T đã thật sự trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà X theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [4] Về con chung, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Con chung đang sống chung với ông T và bà X không tranh chấp quyền nuôi con, đồng ý giao con cho ông T tiếp tục nuôi dạy. Mặc dù con chung chưa đủ 07 tuổi cũng như không ghi nhận được ý kiến của ông T về việc nuôi con chung sau khi ly hôn, tuy nhiên để đảm bảo cho điều kiện phát triển của con chung được ổn định về tâm, sinh lý, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Hưng T1, sinh ngày 01/9/2016 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do không ghi nhận được ý kiến của ông T về việc có yêu cầu cấp dưỡng hay không, vì vậy trường hợp này ông T có quyền khởi kiện trong vụ án khác về tranh chấp liên quan nghĩa vụ cấp dữơng. [5] Về tài sản chung, nợ chung: Do bà X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, không đề cập trong phần quyết định. Trường hợp sau này bà và ông T có tranh chấp về việc chia tài sản chung, giải quyết các khoản nợ chung thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác. [6] Về án phí: Do yêu cầu của bà X được chấp nhận nên bà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 14, Điều 55 và Điều
58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 59 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 11/4/2017 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật. - Con chung: Giao cháu Nguyễn Hưng T1 sinh ngày 01/9/2016 đang sống với ông T cho ông T tiếp tục nuôi dạy. Ông T cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà X trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. - Về án phí: Bà X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0007171 ngày 07/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.
T M . H ỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM * Nơi gửi: T H Ẩ M PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND tỉnh AG (1); - VKS tỉnh AG (1); - VKS H.AP (2); - THA H.AP (1); - UBND xã VH Đông (1); - Các đương sự (2) ; - Lưu HS + VP. Nguyễn Quang Bảo |