vanban.org

Bản án 500/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lại Trung H đối với chị Vũ Hiền A. Anh Lại Trung H được ly hôn với chị Vũ Hiền A. [2]. Về con chung: Anh chị không có con chung nên không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH XUÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 500/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/09/2022
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bà Hoàng Thị Thoa

Các Hội thẩm nhân dân

Ông Nguyễn Quang Đạt

Bà Nguyễn Thị Hồng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa

Ông Vũ Thanh Tùng

Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương- Kiểm sát viên.

Hôm nay, hồi 9 giờ 30 ngày 09 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân mở phiên tòa để xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 271/2022/TLST - HNGĐ ngày 03/06/2022; Về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 22/07/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 143/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/08/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lại Trung H – Sinh năm 1989

HKTT: Số 8, Ngõ 52/2 A, phường N, quận Long Biên, Hà Nội. Hiện ở: Chung cư 54A Nguyễn Chí Thanh, phường L, quận Đống Đa, Hà Nội.

- Bị đơn: Chị Vũ Hiền A – Sinh năm 1993

ĐKHKTT: Tổ 12, Cụm 3, (số nhà 3Đ, ngách 320/5/16 đường Khương Đình), phường H, quận Thanh Xuân, Hà Nội .

Tại phiên tòa: Anh H có mặt, chị Hiền A vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lại Trung H trình bày:

Anh và chị Vũ Hiền A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận Thanh Xuân, Hà Nội ngày 23/04/2019, cả hai đều kết hôn lần đầu. Sau khi kết hôn, anh chị ở tại căn hộ 1909, chung cư 54A Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội nhưng không đăng ký tạm trú tạm vắng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian rất ngắn vào khoảng tháng 10/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, cách sống. Cả hai bên đều cố gắng thay đổi để hòa hợp và tiếp tục chung sống, tuy nhiên do quan điểm quá khác biệt nên anh chị không thể tiếp tục chung sống được với nhau, cuối năm 2019 đến đầu năm 2020 anh chị ly thân, chị Hiền A đã về nhà riêng của chị Hiền A tại số 3Đ, ngách 320/5/16 đường Khương Đình, phường H, quận Thanh Xuân, Hà Nội để ở.

Việc mâu thuẫn vợ anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng không thành, khoảng tháng 3/2021 anh chị có làm đơn thuận tình ly hôn gửi Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân sau đó lại rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ. Sau khi đoàn tụ anh H về nhà chị Hiền A tại số 3Đ, ngách 320/5/16 đường Khương Đình, phường H, quận Thanh Xuân để ở, tuy nhiên việc chung sống chỉ được 2-3 tháng vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn không thể hòa hợp được và chính thức ly thân nhau, mỗi người ở một nơi, anh H ở nhà Nguyễn Chí Thanh còn chị Hiền A ở nhà riêng tại phường H. Hiện nay anh H được biết chị Hiền A không ở tại địa chỉ nhà riêng của mình nữa, tuy nhiên thỉnh thoảng chị Hiền A gọi điện cho anh H nhưng giấu địa chỉ và không nói cho anh H biết là chị Hiền A đang ở chỗ nào.

Nay, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn với chị Hiền A để anh ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Anh H xác nhận anh chị không có con chung.

- Về tài sản, nhà ở chung, công nợ và các vấn đề khác: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Hiền A nhưng không thành. Tòa án đã tiến hành lập biên bản trao đổi, xác minh tại Công an phường H về tình hình cư trú hiện tại của chị Hiền A và được cung cấp hiện tại chị Hiền A không còn sinh sống tại địa chỉ số nhà 3Đ, ngách 320/5/16 đường Khương Đình tổ 12, Cụm 3, phường H, quận Thanh Xuân, Hà Nội, chị Hiền A đã chuyển đi ở nơi khác không khai báo nơi đến và chưa cắt khẩu đến nơi cư trú mới. Do đó Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các thông báo về quyền và nghĩa vụ tố tụng…đối với chị Hiền A theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa.

Anh H trình bày mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài trầm trọng từ nhiều năm, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn với chị Hiền A.

- Về con chung: Anh H xác nhận anh chị không có con chung.

- Về tài sản, nhà ở chung, công nợ và các vấn đề khác: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại điều 70, 72 BLTTDS.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lại Trung H. Anh Lại Trung H được ly hôn với chị Vũ Hiền A.

- Về con chung: Anh chị không có con chung nên không xét.

- Về tài sản và các yêu cầu khác: Anh H không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xét.

- Án phí: Anh H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời khai của anh H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của anh Lại Trung H xin ly hôn đối với chị Vũ Hiền A là quan hệ tranh chấp về Hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Quá trình giải quyết vụ án, anh H cung cấp cho Toà án hộ khẩu thường trú, đăng ký kết hôn, chứng minh nhân dân của chị Vũ Hiền A thể hiện chị Hiền A có hộ khẩu thường trú tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại công an phường H nơi chị Hiền A có hộ khẩu thường trú được cung cấp chị Hiền A hiện không còn sinh sống tại địa chỉ trên và chưa cắt khẩu đến địa chỉ nào khác. Xét thấy, việc chị Hiền A không thông báo cho anh H biết địa chỉ đang sinh sống cụ thể ở đâu thể hiện chị Hiền A đã cố tình dấu địa chỉ, do đó căn cứ theo khoản 3 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tòa án tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân để đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với chị Hiền A.

Tại phiên tòa hôm nay chị Hiền A mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

* Về quan hệ hôn nhân:

Nhận thấy, anh Lại Trung H và chị Vũ Hiền A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận Thanh Xuân, Hà Nội ngày 23/4/2019 đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian rất ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống, cách sống. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhưng không thành, tháng 3/2021 anh chị đã làm đơn thuận tình ly hôn gửi Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân sau đó lại rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, đến giữa năm 2021 anh chị ly thân với nhau mỗi người ở một nơi. Quá trình giải quyết vụ án chị Hiền A vắng mặt không đến Tòa án làm việc, không có lời khai do vậy Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của anh H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng anh chị có cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H, cho anh H được ly hôn với chị Hiền A là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

* Về con chung: Anh H xác nhận anh chị không có nên không xét.

* Về tài sản, nhà ở chung, nợ chung và các vấn đề khác: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tại phiên tòa phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 177; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lại Trung H đối với chị Vũ Hiền A. Anh Lại Trung H được ly hôn với chị Vũ Hiền A.

[2]. Về con chung: Anh chị không có con chung nên không xét.

[3]. Về tài sản, nhà ở chung và nợ chung: Anh Lại Trung H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[4]. Về các vấn đề khác: Anh Lại Trung H không yêu cầu nên không xét.

[5]. Về án phí: Anh Lại Trung H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án anh H đã nộp theo biên lai số 0007776 ngày 03/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Hiền A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ