- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn N - Tàng trữ hàng cấm - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? {1}Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".
- Căn cứ chính? Điều 92 Luật Thi hành án hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 50/2026/HS-ST Ngày 23- 4 -2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Loan Hòa
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Công Cương; bà Nguyễn Thị Huyền (1975)
-Thư kí phiên tòa: ông Đinh Xuân Giáp- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An: bà Nguyễn Thị Hải- Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2026 tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 45/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2026/QĐXXST-HS ngày 09/4/2026 đối với bị cáo Đặng Văn N; CCCD số 040099017765; Giới tính: nam. Sinh ngày 16 tháng 02 năm 1999. Nơi cư trú: xóm G, xã N, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Đặng Văn B và bà Nguyễn Thị M. Bị cáo có vợ là Lê Thị Cẩm T và 01 con, sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2026 đến ngày 21/01/2026.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do có nhu cầu pháo nổ để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán 2026 nên vào khoảng tháng 11/2025, Đặng Văn N tìm và đặt mua của một người không quen biết trên mạng xã hội Telegram (N không nhớ rõ tên tài khoản) số pháo nổ gồm 473 (bốn trăm bảy mươi ba) quả; 210 (hai trăm mười) quả và 215 (hai trăm mười lăm) quả có vỏ giấy màu đỏ được kết nối đối xứng với nhau thành 03 dây pháo nổ - với giá là 3.000.000 đồng. Đến cuối tháng 11/2025, tài khoản N đặt mua pháo liên lạc với N qua mạng Telegram nói đã có pháo và sẽ gửi cho N bằng xe tải, khi nhận được pháo, N sẽ trả tiền cho người giao hàng. Sau đó (không nhớ thời gian cụ thể), N nhận được điện thoại của một người đàn ông hẹn ra đường Q thuộc xã N, tỉnh Nghệ An để nhận. N ra đến điểm hẹn thì có chiếc xe ô tô tải (không nhớ đặc điểm và biển số) dừng lại chỗ Nam đang đứng, một người đàn ông xuống xe mang theo 01 (một) thùng carton đưa cho N và nói là giao hàng. N mở nắp thùng carton nhìn vào thì thấy bên trong có nhiều quả pháo nổ màu đỏ. Sau đó, N đưa số tiền 3.000.000 đồng cho người đàn ông trên. Số pháo mua được N đem về cất giấu trong phòng trọ ở xóm G, xã N, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 12 giờ 45 phút ngày 12/01/2026, N mang thùng carton chứa toàn bộ số pháo trên đưa về nhà bố mẹ đẻ để cất giấu chờ đến dịp Tết mang ra nổ. Khi đang đứng chờ bắt xe ôm ở đường liên xóm thuộc xóm G, xã N thì bị Tổ công tác Công an xã N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ một thùng carton bên trong có 03 dây pháo nêu trên.
Ngày 12/01/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu vật gửi đi giám định đối với số vật chứng là pháo thu giữ của Đặng Văn N, xác định: 473 (bốn trăm bảy mươi ba) khối hình trụ tròn, có vỏ giấy bên ngoài màu đỏ, mỗi khối có gắn đoạn dây màu bạc có tổng khối lượng là 3,45kg (ba phẩy bốn mươi lăm kilôgam), lấy số khối hình trụ tròn có khối lượng 0,25kg (không phẩy hai mươi lăm kilôgam) gửi giám định (ký hiệu M1); Dây gồm 210 (hai trăm mười) khối hình trụ tròn, có vỏ giấy bên ngoài màu đỏ và được liên kết đối xứng với nhau có tổng khối lượng là 1,84kg (một phẩy tám mươi tư kilôgam), lấy tất cả gửi giám định (ký hiệu M2); Dây gồm 215 (hai trăm mười lăm) khối hình trụ tròn, có vỏ giấy bên ngoài màu đỏ và được liên kết đối xứng với nhau có tổng khối lượng là 1,89kg (một phẩy tám mươi chín kilôgam), lấy tất cả gửi giám định (ký hiệu M3). Vật chứng thu giữ của Đặng Văn N có tổng khối lượng là 7,18kg (bảy phẩy mười tám kilôgam), vật chứng còn lại sau khi trích mẫu gửi đi giám định có khối lượng là 3,2kg (ba phẩy hai kilôgam) cùng các vỏ, bao bì ban đầu được niêm phong lại và nhập Kho vật chứng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N.
Tại bản Kết luận giám định số 145/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 18/01/2026 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:“Các mẫu vật ký hiệu (M1, M2, M3) thu giữ của Đặng Văn N gửi giám định đều là pháo; thuộc loại pháo nổ”.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-KV2 ngày 02/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An truy tố bị cáo Đặng Văn N về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 điều 191 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, 54 và Điều 65 bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo từ 04 đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thử thách 12 đến 14 tháng.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có công việc ổn định nên đề nghị tha miễn, không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy số pháo nổ còn lại sau khi giám định;
T1 buộc bị cáo chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
{1}Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
{2}Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như quá trình tranh tụng: Vào hồi 12 giờ 45 phút ngày 12/01/2026, tại đường liên xóm G, xã N, tỉnh Nghệ An, Đặng Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép 7,18 kg (bảy phẩy mười tám kilôgam) pháo nổ nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã N, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang.
Lời khai nhận đó phù hợp với lời khai và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua tranh tụng tại phiên tòa. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận Đặng Văn N đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ, thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng. Tội trạng và hình phạt được quy định tại Điều 191 bộ luật Hình sự năm 2015. Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An truy tố bị cáo về tội danh "Tàng trữ hàng cấm" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
{3} Xét tính chất vụ án:
Hành vi tàng trữ để sử dụng pháo nổ xâm phạm chế độ quản lý Nhà nước về kinh tế, gây mất trật tự trị an địa phương nên việc điều tra, truy tố, xét xử với một mức án nghiêm là đúng quy định của pháp luật.
{4} Xét tính chất hành vi, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
Vể tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải với hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Do vậy, chấp nhận cho bị cáo được hưởng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 bộ luật Hình sự năm 2015; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, nghĩ nên chấp nhận cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo mức dưới khung hình phạt cũng đủ để giáo dục, răn đe.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do nên công việc, thu nhập không ổn định nên tha miễn.
Trong vụ án này có người đàn ông bán pháo cho N qua mạng Telegram; Hiện cơ quan Công an chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên tách ra, điều tra và xử lý sau là phù hợp.
{5} Về vật chứng: áp dụng quy định của pháp luật để tịch thu tiêu hủy vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An.
Đối với chiếc điện thoại mà N dùng liên lạc mua pháo do N làm mất nên không thu giữ được.
{6} Bị cáo có quyền kháng cáo và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
{1}Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, 54 và Điều 65 bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt Đặng Văn N 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Nghệ An và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng điều 92 luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo này.
{2}Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 3,2 kg pháo nổ; Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho VKĐ-PHC-KT của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh N theo biên bản giao nhận ngày 11/2/2026.
{3}Về án phí: bị cáo Đặng Văn N phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi gửi:
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
| - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh N - VKSND khu vực 2-NA; - Công an tỉnh N - Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 2-NA; - TAND t. Nghệ An; - Lưu HS | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Loan H |