vanban.org

Bản án 50/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với anh anh Nguyễn Hữu B.

[2] Về Con chung: Nguyễn Hoàng Yến V, sinh ngày 02/01/2008, hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Nguyễn Thị Kim H được tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Hữu T, sinh ngày 20/12/2012. Cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu anh Nguyễn Hữu B cấp dưỡng nuôi con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim H - Nguyễn Hữu B"
  • Tòa quyết gì? [1] Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với anh anh Nguyễn Hữu B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6- ĐỒNG THÁP
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2026/HNGĐ-ST
Ngày:15 /06/2026
“V/v Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình – Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bảo Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thanh Hoa

2. Bà Trần Thị Tuyết Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 –Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2026. Tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2026/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 04 năm 2026 về việc “Tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn, con chung ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2026/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 05 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 260/2026/QĐST-DS ngày 29 tháng 05 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Tổ A, khóm B, phường C, tỉnh Đồng Tháp

Bị đơn : Nguyễn Hữu B, sinh năm 1983,

Địa chỉ: Tổ A, khóm B, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị H có mặt tại phiên tòa, anh Nguyễn Hữu B vắng mặt tại phiên tòa.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh B kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, tỉnh Đồng Tháp.

Qua thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, cách sống nên xuất hiện nhiều khác biệt dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không được. Hiện nay, chị H và anh B vẫn còn sống chung nhà nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hữu B.

Về con chung: Chị H và anh B có 02 con chung:

Nguyễn Hoàng Yến V, sinh ngày 02/01/2008, hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyễn Hữu T, sinh ngày 20/12/2012, hiện nay đang sống chung với chị H và anh B. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hữu B thì:Tòa án nhân dân khu vực 6- Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Hữu B theo qui định của pháp luật, anh Nguyễn Hữu B không có văn bản ghi ý kiến về việc giải quyết vụ án. Tại phiên toà anh Nguyễn Hữu B vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp giữa các bên là tranh chấp hôn nhân gia đình – Ly hôn, nuôi con chung.

Về thẩm quyền giải quyết, xét thấy: Địa chỉ của bị đơn tại phường C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6- Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Anh Nguyễn Hữu B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hữu B kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, tỉnh Đồng Tháp là hôn nhân hợp pháp.

Qua thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, cách sống nên xuất hiện nhiều khác biệt dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không được. Hiện nay, chị H và anh B không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, hai bên có hàn gắn tình cảm nhưng không được. Theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ …Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hữu B, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hữu B đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì quan hệ hôn nhân.

Ngoài ra tại phiên tòa hôm nay Tòa án nhân dân khu vực 6 Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh anh Nguyễn Hữu B theo quy định của pháp luật anh Nguyễn Hữu B không có văn bản ghi ý kiến về việc giải quyết vụ án. Tại phiên toà Nguyễn Hữu B vắng mặt không có lý do Nguyễn Hữu B đã không có thiện chí đoàn tụ gia đình với chị Nguyễn Thị Kim H.

Cho nên chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu B là có căn cứ và phù hợp theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ nên chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hữu B có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Yến V, sinh ngày 02/01/2008, hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 20/12/2012, hiện nay đang sống chung với chị H và anh B. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện chị Nguyễn Thị Kim H đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung rất tốt, ngoài ra theo nguyện vọng của bé Nguyễn Hữu T đồng ý sống với chị Nguyễn Thị Kim H cho nên chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu được nuôi con chung, Nguyễn Hữu T, sinh ngày 20/12/2012 là phù hợp. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu anh Nguyễn Hữu B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Hữu B không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn: Theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Do đó, án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình ly hôn là 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Kim H đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0005437 ngày 14/04/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Chị Nguyễn Thị Kim H đã nộp xong án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, khoản 1 Điều 81, khoản 3 Điều 82 và khoản 2 Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với anh anh Nguyễn Hữu B.

[2] Về Con chung: Nguyễn Hoàng Yến V, sinh ngày 02/01/2008, hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Kim H được tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Hữu T, sinh ngày 20/12/2012. Cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu anh Nguyễn Hữu B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn: Nguyễn Thị Kim H phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Kim H đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0005437 ngày 14/04/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, chị Nguyễn Thị Kim H đã nộp xong án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ