vanban.org

Bản án 50/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy Nh đối với ông Phạm Văn T. Bà Nguyễn Thị Thùy Nh được ly hôn đối với ông Phạm Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 129/2019 đăng ký tại Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 8 (nay là Ủy ban nhân dân phường Chánh Hưng), Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/06/2019 không còn giá trị pháp lý. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên: Phạm Ngọc Gia Hân, sinh ngày 20/4/2018. Giao trẻ Phạm Ngọc Gia Hân, s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thùy Nhung - Phạm Văn Tín"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy Nh đối với ông Phạm Văn T. Bà Nguyễn Thị Thùy Nh được ly hôn đối với ông Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2026
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Dòn

2. Bà Võ Thị Thanh Thảo

Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp phải tham gia.

Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 318/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 663/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 332/2025/QĐST-DS ngày 19/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh, sinh năm 2000; Địa chỉ: 100/83 Dương Bá Trạc, phường Chánh H (phường Rạch Ông, quận 8 cũ), Thành phố Hồ Chí M.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1999; Địa chỉ: 6/3A Phạm Hùng, phường Chánh H (phường 4, Quận 8 cũ), Thành phố Hồ Chí M.

(Bà Nguyễn Thị Thùy Nh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Phạm Văn T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/8/2025 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Nh trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thùy Nh và ông Phạm Văn T tự tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, về sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 129/2019 ngày 28/6/2019.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau rất hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, đến nay vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất hòa, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng cố gắng hòa giải để hàn gắn tính cảm vợ chồng nhưng không được. Nay bà Nhung nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Nguyễn Thị Thùy Nh đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thùy Nh xin được ly hôn với ông Phạm Văn T.

- Về con chung: bà Nguyễn Thị Thùy Nh và ông Phạm Văn T có 01 (một) con chung tên là Phạm Ngọc Gia Hân, sinh ngày 20/4/2018. Khi ly hôn bà Nguyễn Thị Thùy Nh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Hân, không yêu cầu ông Tín cấp dưỡng, nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh xác nhận tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung : Bà Nguyễn Thị Thùy Nh xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án xem xét.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Phạm Văn T, ông Tín đã trực tiếp nhận được văn bản tống đạt của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc và không thể hiện ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Nh nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Văn T theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị Thùy Nh và ông Phạm Văn T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 8 (nay là Ủy ban nhân dân phường Chánh Hưng), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 129/2019 ngày 28/6/2019. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị Thùy Nh yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn T. Đây là tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn có nơi cư trú tại phường Chánh Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết.

Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện các thủ tục tống đạt thông báo, giấy triệu tập đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Nh và bị đơn ông Phạm Văn T. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Phạm Văn T vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Nh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Nh và bị đơn ông Phạm Văn T là phù hợp với Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[2.1] Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 129/2029 ngày 28/6/2019 của Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 8 (nay là Ủy ban nhân dân phường Chánh Hưng) Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thùy Nh và ông Phạm Văn T là hợp pháp.

[2.2] Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình tố tụng, bị đơn ông Phạm Văn T vắng mặt, không thể hiện có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy Nh, điều này cho thấy ông Phạm Văn T không có thiện trí hàn gắn, không có bất kỳ động thái nào để níu kéo, cứu vãn cuộc hôn nhân này. Xét thấy trình trạng hôn nhân giữa bà Nhung và ông Tín là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy Nh đối với ông Phạm Văn T là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh xác định quá trình chung sống với ông Phạm Văn T có 01 (một) con chung tên: Phạm Ngọc Gia Hân, sinh ngày 20/4/2018. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Thùy Nh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Phạm Ngọc Gia Hân, bà Nhung không yêu cầu ông Phạm Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quá trình tố tụng vụ án, Tòa án cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng thông báo cho ông Phạm Văn T biết về yêu cầu của bà Nhung muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Tuy nhiên, ông Tín không có bất kỳ động thái nào phản đối. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của trẻ Phạm Ngọc Gia Hân, thiết nghĩ nên giao trẻ Phạm Ngọc Gia Hân cho bà Nguyễn Thị Thùy Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà Nguyễn Thị Thùy Nh không yêu cầu ông Phạm Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung Phạm Ngọc Gia Hân nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết sau.

[2.4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[2.5] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy Nh đối với ông Phạm Văn T. Bà Nguyễn Thị Thùy Nh được ly hôn đối với ông Phạm Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 129/2019 đăng ký tại Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 8 (nay là Ủy ban nhân dân phường Chánh Hưng), Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/06/2019 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên: Phạm Ngọc Gia Hân, sinh ngày 20/4/2018. Giao trẻ Phạm Ngọc Gia Hân, sinh ngày 20/4/2018 cho bà Nguyễn Thị Thùy Nh tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Thùy Nh không yêu cầu ông Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con chung, nên hội đồng xét xử không xem xét, sau này đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết sau.

Ông Phạm Văn T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con cái khi cần thiết có thể xin thay đổi việc nuôi con hoặc góp phần phí tổn nuôi con sau này.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Nguyễn Thị Thùy Nh đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0015801 ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thùy Nh đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ