- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "HIỀN - DIỆU"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Bảo H.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân s; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân s; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2026/DS-PT Ngày 14 - 01 - 2026 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dững
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Tôn
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở 1 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 607/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do bản án dân s s thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu v c 12 - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 619/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đư ng s :
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bảo H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã L, huyện H, (nay là xã L), tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Bảo H: Ông Võ Văn C, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số A, N, khóm D, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Trư ng Thị D, sinh năm 1983.
2.2. Ông Trư ng Văn T, sinh năm 1987.
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện H (nay là xã L), tỉnh Đồng Tháp.
3. Người kháng cáo: Bà Lê Thị Bảo H là nguyên đ n trong vụ án.
(Ông C có mặt; Bà D có đ n xin vắng mặt và ông T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Bảo H do ông Võ Văn C là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà H và bà Trư ng Thị D, ông Trư ng Văn T không có quan hệ bà con, ông T và bà D là em ruột của bà Nguyễn Thị Đ, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bà D, ông T cho rằng bà H có quan hệ tình cảm với ông B là chồng của bà Đ. Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 26/8/2022, bà H đang cùng ông Q Công chức địa chính xã L đo đạc phần đất bà H tại ấp L, xã L, huyện H (nay là xã L), tỉnh Đồng Tháp, bà D, ông T và bà Đ đến nhà bà H thì hai bên xảy ra cãi nhau, bà D và ông T dùng tay, chân đánh, đạp vào đầu, cổ, mặt, hông và mông của bà H gây thư ng tích. Sau khi bị đánh tại nhà, bà H chạy ra cổng thì tiếp tục bị bà D và ông T đuổi theo đánh, lúc này ông Q gọi điện báo Công an xã L, bà D và ông T rời khỏi hiện trường có s chứng kiến của ông Q và ông Nguyễn Duy T1 là Viên chức Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, bà H được người nhà đưa đến Bệnh viện Q1, thành phố H điều trị, đến ngày 01/9/2022 xuất viện.
Ngày 06/10/2022, Trung tâm Pháp y tỉnh Đ ban hành Kết luận giám định pháp y số: 319/TgT kết luận: Bà H bị tổn thư ng c thể với tỷ lệ 7%. Sau khi điều trị, bà H yêu cầu xử lý hình s đối với bà D và ông T. Ngày 05/12/2022, c quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình s số: 36/QĐ-CQCSĐT, đồng thời, Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính đối với bà D và ông T, mỗi người 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thư ng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình s ”.
Tổng thời gian bà H điều trị, bao gồm: 06 ngày nằm viện, 01 ngày tái khám và 01 ngày đến Trung tâm P giám định, tổng chi phí thuốc men, viện phí là 8.191.422 đồng. Trong quá trình điều trị, bà H thuê bà Thiều Thị Thúy N chăm sóc với tiền công 400.000 đồng/ngày × 08 ngày là 3.200.000 đồng, tại phiên tòa s thẩm ông C yêu cầu 06 ngày. Do bị thư ng, công việc mua bán thức ăn cá và nuôi các loại cá thư ng phẩm như cá hú, basa, phi, điêu hồng của bà H bị đình trệ, ảnh hưởng đến thu nhập. Bà H yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất 08 ngày × 500.000 đồng/ngày là 4.000.000 đồng, chi phí thuê xe đưa rước đi điều trị, tái khám gồm 03 chuyến, mỗi chuyến 1.500.000 đồng là 4.500.000 đồng, có lập hợp đồng thuê xe. Ngoài ra, bà H cho rằng hành vi đánh người của bà D và ông T đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh d , nhân phẩm, sức khỏe, uy tín và các mối quan hệ xã hội của bà H, sau khi s việc xảy ra bà H vẫn được hàng xóm, bạn bè thăm hỏi, nhưng bà cảm thấy uy tín bị giảm sút. Vì vậy, bà H yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần theo mức 50 tháng lư ng tối thiểu là 2.340.000 đồng × 50 tháng là 117.000.000 đồng, việc bà D, ông T và bà Đ nghi ngờ bà H có quan hệ tình cảm với ông B là không đúng. Th c tế, bà H và ông B chỉ có quan hệ làm ăn, cùng làm nghề vận chuyển cá.
Bà H yêu cầu bà D và ông T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bao gồm các khoản: Tiền nằm viện, thuốc theo toa 8.191.422 đồng, tiền xe đưa đón nằm viện, tái khám, ba chuyến là 4.500.000 đồng; tiền ngày công người nuôi bệnh 400.000 đồng/ngày x 06 ngày là 2.400.000 đồng, tiền công lao động 500.000 đồng/ngày x 08 ngày = 4.000.000 đồng, tiền đền bù tổn thất tinh thần 2.340.000 đồng x 50 tháng là 117.000.000 đồng, tổng cộng 136.091.422 đồng và yêu cầu bà D, ông T công khai xin lỗi tại địa phư ng n i xảy ra vụ việc.
- Bị đơn bà Trương Thị D, ông Trương Văn T do ông Hồ Thanh H1 là người đại diện theo ủy quyền tại Tòa án cấp sơ thẩm trình bày:
Giữa bà Lê Thị Bảo H với bà D và ông T không có quan hệ họ hàng, bà D nghe bà Nguyễn Thị Đ kể rằng bà H có quan hệ tình cảm với ông B là chồng của bà Đ. Ngày 26/8/2022, bà D đến nhà bà Đ được biết bà Đ đang ở nhà bà H nên bà D đến nhà bà H, khi đến n i bà D thấy bà Đ và bà H đang đứng trong sân nhà bà H, lo ngại bà H hoặc người nhà bà H có thể gây bất lợi, bà D kêu bà Đ về. Khi bà D và bà Đ bước ra cổng, bà H chạy theo và đóng cổng lại thì bà D yêu cầu mở cổng nhưng bà H không đồng ý, dẫn đến hai bên giằng co, do bà D khỏe h n nên kéo được cửa ra làm bà H ngã xuống đất, bà H đứng dậy túm tóc bà D, khiến hai bên tiếp tục giằng co.
Lúc này, ông T đang trên đường đến nhà bà Đ lấy thức ăn, nghe tin bà D và bà Đ đến nhà bà H nên đi theo, khi đến n i ông T thấy bà H và bà D đang giằng co, ban đầu chỉ đứng nhìn, khi thấy hai bên xô đẩy mạnh ông mới can thiệp để tách hai người ra, trong lúc can ngăn có qu tay trúng bà H, thư ng tích của bà H là do lúc bà H và bà D kéo cửa qua lại gây ra.
Đối với yêu cầu bồi thường 136.091.422 đồng của bà H, ông T không đồng ý, vì cho rằng mình không cố ý gây thư ng tích, chỉ chấp nhận bồi thường phần thư ng tích mà Công an đã ghi nhận trong biên bản lấy lời khai và toa thuốc, thư ng tích xác định đến đâu bồi thường tới đó, còn các khoản khác như chi phí thuê xe, tiền công nuôi bệnh, thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần không chấp nhận.
Riêng bà D chấp nhận một phần yêu cầu, đồng ý bồi thường chi phí điều trị thư ng tích tại vùng mặt nhưng không đồng ý các khoản khác như chi phí thuê xe, công nuôi bệnh, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần. Bà D cho rằng sau s việc h n một tiếng, bà H dẫn người thân đến nhà bà Đ tiếp tục cãi nhau, đe dọa đánh bà Đ, chứng tỏ sức khỏe và tinh thần của bà H vẫn bình thường, không bị tổn hại nghiêm trọng như bà H trình bày.
Sau s việc Công an xã L mời các bên làm việc và thông báo Kết luận giám định thư ng tích của bà H là 07%, bà H có yêu cầu xử lý hình s Công an huyện H đã ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình s , đồng thời xử phạt vi phạm hành chính đối với bà D và ông T, mỗi người 6.500.000 đồng, đã nộp phạt xong.
Về yêu cầu buộc công khai xin lỗi tại địa phư ng, bà D và ông T không đồng ý, với lý do không có hành vi chửi bới, đe dọa hoặc xúc phạm danh d , nhân phẩm của bà H; bà H cũng không có biểu hiện bị ảnh hưởng tâm lý nghiêm trọng như u uất hay trầm cảm. Ngoài ra, mâu thuẫn một phần xuất phát từ lỗi của bà H do có quan hệ tình cảm với ông B chồng bà Đ.
Tại quyết định bản án dân s s thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu v c 12 - Đồng Tháp tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bảo H.
Buộc bà Trư ng Thị D và ông Trư ng Văn T phải liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Lê Thị Bảo H số tiền 41.291.500 đồng (Bốn mư i mốt triệu hai trăm chín mư i mốt nghìn năm trăm đồng).
2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân s , trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Bảo H về việc buộc bà Trư ng Thị D và ông Trư ng Văn T phải công khai xin lỗi tại địa phư ng.
4. Về án phí dân s s thẩm:
4.1. Bà Lê Thị Bảo H được miễn.
4.2. Bà Trư ng Thị D và ông Trư ng Văn T phải liên đới chịu 2.065.000 đồng (Hai triệu không trăm sáu mư i lăm nghìn đồng).
Ngoài ra bản án s thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đư ng s .
Sau khi xét xử s thẩm:
Ngày 23/9/2025 bà Lê Thị Bảo H kháng cáo bản án dân s s thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu v c 12 - Đồng Tháp. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án s thẩm theo hướng như sau: Thứ nhất xem xét bồi thường khoản tiền chi cho người nuôi, chăm sóc người nằm viện theo mức thu nhập th c tế 2.400.000 đồng. Thứ hai yêu cầu mức bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân s là 50 tháng lư ng c bản, theo Nghị định số: 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ về việc tăng mức lư ng s sở 2.340.000 đồng. Thứ ba việc bà Trư ng Thị D, ông Trư ng Văn T cùng người thân vô cớ xâm nhập vào nhà đánh bà H, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh d , buộc bà D và ông T công khai xin lỗi bà H tại địa phư ng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Võ Văn C là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Bảo H trình bày: Thay đổi kháng cáo chỉ yêu cầu bà Trư ng Thị D và ông Trư ng Văn T bồi thường tổn thất tinh thần cho bà H là 25 tháng lư ng c bản, với mức lư ng s sở 2.340.000 đồng, với số tiền 58.500.000 đồng; yêu cầu bà D và ông T công khai xin lỗi bà H tại địa phư ng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án s thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân s ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã th c hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã th c hiện đúng trình t , thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đư ng s đã th c hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân s , không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Bảo H, giữ nguyên bản án dân s s thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu v c 12 - Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ s , được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Xét đ n kháng cáo của bà Lê Thị Bảo H nộp trong thời hạn luật định. Căn cứ Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân s , xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai chỉ có ông C có mặt; Bà D có đ n xin vắng mặt và ông T vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tòa án cấp s thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” thụ lý giải quyết phù hợp khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân s .
Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Lê Thị Bảo H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án s thẩm theo hướng như sau: Thứ nhất xem xét bồi thường khoản tiền chi cho người nuôi, chăm sóc người nằm viện theo mức thu nhập th c tế 2.400.000 đồng. Thứ hai yêu cầu mức bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân s là 50 tháng lư ng c bản, theo Nghị định số: 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ về việc tăng mức lư ng s sở 2.340.000 đồng. Thứ ba việc bà Trư ng Thị D, ông Trư ng Văn T cùng người thân vô cớ xâm nhập vào nhà đánh bà H, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh d , buộc bà D và ông T công khai xin lỗi bà H tại địa phư ng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C là người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày: Thay đổi kháng cáo chỉ yêu cầu bà D và ông T bồi thường tổn thất tinh thần cho bà H là 25 tháng lư ng c bản, với mức lư ng s sở 2.340.000 đồng, với số tiền 58.500.000 đồng; yêu cầu bà D và ông T công khai xin lỗi bà H tại địa phư ng. Việc thay đổi kháng cáo phù hợp với Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân s .
Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét yêu cầu tăng mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần: Bà H yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 2.340.000 đồng x 25 tháng, với số tiền 58.500.000 đồng. Căn cứ giấy ra viện của Bệnh viện Q1 - Hồ N, bà H bị chấn thư ng vùng đầu, mặt, cổ, ng c. Thư ng tích của bà H do bà D, ông T gây ra. Theo khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân s : “…Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Bà H yêu cầu mức tối đa 25 tháng lư ng c sở 2.340.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, tỷ lệ thư ng tật của bà H là 7%, không để lại di chứng, thời gian điều trị chỉ 06 ngày, sau xuất viện sức khỏe phục hồi ổn định, vẫn tham gia lao động bình thường, tại phiên tòa phúc thẩm ông C cho rằng sức khỏe của bà H không bị ảnh hưởng về thẩm mỹ, nghề nghiệp vẫn hoạt động bình thường, giao tiếp với bạn bè và xã hội vẫn bình thường. Ngoài ra, bà H không có tài liệu, chứng minh suy giảm chức năng c thể hoặc tổn thất tinh thần, bà H yêu cầu mức tối đa 25 tháng lư ng c sở là chưa phù hợp thiệt hại xảy ra. Vì vậy, Tòa án cấp s thẩm chấp nhận mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần 10 tháng lư ng c sở, tư ng ứng 23.400.000 đồng là có c sở.
Xét việc yêu cầu xin lỗi công khai: Trên c sở xem xét các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đư ng s , không có chứng cứ bà D, ông T xâm phạm danh d , nhân phẩm, uy tín đối với bà H. Nguyên nhân s việc bắt nguồn từ mâu thuẫn cá nhân về nghi ngờ quan hệ tình cảm giữa bà H và chồng bà Đ, bà D và ông T cũng đã bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 6.500.000 đồng, đã nộp phạt xong. Vì vậy, Tòa án cấp s thẩm không chấp nhận của bà H yêu cầu bà D và ông T phải xin lỗi công khai là có c sở.
Do đó, Tòa án cấp s thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H. Buộc bà D và ông T liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà H số tiền 41.291.500 đồng và không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc buộc bà D và ông T phải công khai xin lỗi tại địa phư ng là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C là người đại diện theo ủy quyền của bà H không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bà H là có căn cứ. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà H là không có căn cứ chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của bà H là không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án dân s s thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu v c 12 - Đồng Tháp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí dân s phúc thẩm: Do kháng cáo của bà H không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà H thuộc trường hợp miễn án phí.
Các phần còn lại của bản án s thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
U T ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân s ; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Bảo H.
2. Giữ nguyên bản án dân s s thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu v c 12 - Đồng Tháp.
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bảo H.
Buộc bà Trư ng Thị D và ông Trư ng Văn T phải liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Lê Thị Bảo H số tiền 41.291.500 đồng (Bốn mư i mốt triệu hai trăm chín mư i mốt nghìn năm trăm đồng).
2.2. Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân s , trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Bảo H về việc buộc bà Trư ng Thị D và ông Trư ng Văn T phải công khai xin lỗi tại địa phư ng.
2.4. Về án phí dân s s thẩm:
Bà Lê Thị Bảo H được miễn án phí dân s s thẩm.
Bà Trư ng Thị D và ông Trư ng Văn T phải liên đới chịu 2.065.000 đồng (Hai triệu không trăm sáu mư i lăm nghìn đồng) án phí dân s s thẩm
3. Về án phí dân s phúc thẩm: Bà Lê Thị Bảo H được miễn án phí dân s phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .
Các phần còn lại của bản án s thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Phòng KT - TT & THA TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - TAND khu v c 12 - Đồng Tháp; - Phòng THADS khu v c 12 - Đồng Tháp; - Đư ng s ; - Lưu: VT, TDS, HSVA (Dũng). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Chí Dững |