vanban.org

Bản án 50/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HS-ST
Ngày 30 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Cương, bà Lò Thị Thành.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/LHST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/3/1988. Nơi sinh: Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: Bản P, xã NT, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, nay bản P, xã NT, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Lò Văn Đ, sinh năm 1964, con bà Lò Thị T, sinh năm 1962, Có vợ là Lò Thị Y và có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 20/6/2025 tổ công tác Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã NT làm nhiệm vụ bản Pàn, xã NT, huyên Sông Mã, tỉnh Sơn La (nay là bản Pàn, xã NT, tỉnh Sơn La), phát hiện bắt quả tang Lò Văn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng (Lò Văn T khai nhận đó là ma tuý để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 21/6/2025 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phối hợp Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 và phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh lấy mẫu trưng cầu giám định: Chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,15 gam, trích toàn bộ làm mẫu giám định. Kết quả giám định là ma túy; loại Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân sử dụng chất ma túy từ đầu năm 2022. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 20/6/2025, T đi bộ đến nhà Quàng Văn T, sinh năm 1981 ở cùng bản, hỏi và mua được của T 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa Heroine với giá 120.000, sau khi mua ma túy T cầm trong lòng bàn tay trái đi bộ về nhà, dọc đường về T vào bui cây ben đường trích ra sử dụng một ít số còn lại gói lại như ban đầu. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày trên đường về thì gặp tổ công tác phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.

Do các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 41/CT-VKS – KV3, ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La truy tố bị can Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lò Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng nêu.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không có tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Sông Mã (nay Viện kiểm sát khu vực 3), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu và khẳng định lời khai báo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa hoàn toàn tự nguyện đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 00 phút ngày 20/6/2025 của Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La và Công an xã NT, lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định số 708/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/6/2025 Lò Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của Lò Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Sơn La truy tố Lò Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, mặc dù nhận thức được mọi hành vi liên quan đến chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận tội là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu là đối tượng sử dụng chất ma túy từ năm 2022. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, cần xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.

[5] Về áp dụng pháp luật: Bị cáo phạm tội trước 00 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 và bị truy tố xét xử khi luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự đã có hiệu lực pháp luật tuy nhiên để áp dụng có lợi cho bị cáo nên HĐXX áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 theo quy định tại Điều 4 luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự.

[6] Vật chứng còn lại 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh nilon màu xanh đã được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.

[7] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy qua xác minh bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, là đối tượng nghiện chất ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[8] Về một số vấn đề khác:

- Đối với Quàng Văn T là người bán ma túy cho bị cáo vào ngày 20/6/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc, đối chất Thưởng không thừa nhận việc bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Ngoài lời khai của bị cáo T ra không có căn cứ để xử lý đối với Quàng Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tuy nhiên Quàng Văn Thưởng là đối tượng nghiện chất ma túy thuộc diện quản lý của UBND xã NT, nên ngày 30/6/2025 Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có sở đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo T vào ngày 20/6/2025 xảy ra trước 00 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 nên không xem xét xử lý về xử lý về tội sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 256a của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025, là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

- Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày, nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Xét thấy bị cáo thuộc dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xin được miễn án phí nên cần miễn án phí cho bị cáo theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2025).

Cỡ chữ