vanban.org

Bản án 50/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng Nh.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Đoàn Văn H có 02 con chung là Đoàn Linh Tr, sinh ngày 04/03/2007 và Đoàn Thanh P, sinh ngày 26/02/2010. Cháu Đoàn Linh Tr đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng Nh - Đoàn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

––––––––
Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27/06/2025
“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên.

Ông Nguyễn Văn Đạo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Đào Xuân Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 188/2025/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐST- HNGĐ ngày 22 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 1986.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã PL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Đoàn Văn H, sinh năm 1984;

Hộ khẩu thường trú: Khối X, xã PL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã PL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Có mặt chị Nh, vắng mặt anh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/12/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hồng Nh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Văn H tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã PL ngày 20/12/2005. Sau khi kết hôn, chị về sống chung cùng gia đình anh H ở thôn Đông, xã PL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đến năm 2015 thì anh H bán nhà, vợ chồng chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị sống đến nay. Quá trình chung sống, anh chị sống không hạnh phúc do anh H ham chơi cờ bạc, rượu chè, không chịu làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, về nhà lại gây sự nên vợ chồng thường xuyên to tiếng, cãi vã, đánh chửi nhau. Khoảng năm 2015, do anh H chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần, khi chị nói thì anh H đánh chị nên chị đã mang con về nhà mẹ đẻ sống, còn anh H tự bán nhà đất của bố mẹ chồng cho để trả nợ, không nói gì với chị. Sau đó, chị đã nộp đơn ly hôn lên Tòa án Sóc Sơn để giải quyết nhưng vì thương con và gia đình bên hòa giải nên chị rút đơn về cho anh H cơ hội sửa chữa. Tuy nhiên, sau khi chị rút đơn, anh H chỉ thay đổi trong một thời gian ngắn rồi lại tiếp tục chơi bời về đánh chửi chị, gia đình hai nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 01/2025 đến nay, anh H không về nhà, cũng không quan tâm gì đến mẹ con chị. Nay chị không còn tình cảm gì với anh H, cuộc sống chung không hạnh phúc, chị xin ly hôn anh H để ổn định lại cuộc sống và nuôi con.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Đoàn Linh Tr, sinh ngày 04/03/2007 và Đoàn Thanh P, sinh ngày 26/02/2010. Ly hôn, cháu Tr đã đủ 18 tuổi, khỏe mạnh nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu P, chị xin nuôi con và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị làm nhân viên văn phòng, thu nhập bình quân 10 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất nông nghiệp, công nợ, công sức đóng góp: Chị không có gì và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Đoàn Văn H: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và nhiều lần triệu tập anh H nhưng anh H không đến Tòa làm việc. Tòa án đã phối hợp với UBND xã PL đến nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú của anh H nhưng anh H vắng nhà nên Tòa án không lấy được lời khai của anh H.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh chị Nguyễn Thị Hồng Nh. Cho chị Nguyễn Thị Hồng Nh ly hôn anh Đoàn Văn H.

- Về con chung: Cháu Đoàn Linh Tr đã trưởng thành, lao động tự túc được nên không đặt ra giải quyết. Giao cháu Đoàn Thanh P, sinh ngày 26/02/2010 cho chị Nguyễn Thị Hồng Nh trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đoàn Văn H đến khi có điều kiện và các bên có yêu cầu hoặc có quyết định khác của Tòa án.

- Về tài sản chung, đất sản xuất nông nghiệp, nợ chung và công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện của các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Anh Đoàn Văn H đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khối 11, xã PL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và cư trú tại Thôn Đông, xã PL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh H nhưng tại phiên tòa hôm nay, anh H vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Đoàn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận kết hôn số 157/2005 ngày 26/12/2005. Hôn nhân giữa chị Nh và anh H là hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của chị Nh cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Sau khi kết hôn, chị Nh, anh H chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thông cảm, chia sẽ với nhau các vấn đề trong cuộc sống, gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không có kết quả, anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập và tiến hành hòa giải cho chị Nh và anh H nhưng anh H đều vắng mặt, thể hiện thái độ bỏ mặc, không hợp tác nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời qua xác minh tại địa phương, nơi anh chị cư trú cho thấy, mâu thuẫn giữa chị Nh và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh đối với anh H là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Chị Nh, anh H có 02 con chung là Đoàn Linh Tr, sinh ngày 04/03/2007 và Đoàn Thanh P, sinh ngày 26/02/2010.

Đối với cháu Đoàn Linh Tr: Cháu Tr đã đủ 18 tuổi, trưởng thành, khỏe mạnh và chị Nh không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Xét yêu cầu xin nuôi cháu Đoàn Thanh P của chị Nh, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không lấy được lời khai của anh H nên không xác định được quan điểm của anh H về vấn đề con chung. Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện thực tế thì chị Nh cũng như xác minh nơi chị Nh và anh H cư trú thì chị Nh có nơi cư trú và thu nhập ổn định để đảm bảo cuộc sống của bản thân và nuôi con, đồng thời cháu P có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ và hiện đang sống ổn định cùng chị Nh. Do đó để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần, tránh những xáo trộn không cần thiết ảnh hưởng đến tâm lý trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu P cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy đinh về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, chị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.

Về tài sản chung, đất sản xuất nông nghiệp, nợ chung và công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện của các bên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của tại Điều 143, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Điều 143, 147, 227, 267, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 25 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xö:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng Nh. Cho chị Nguyễn Thị Hồng Nh ly hôn anh Đoàn Văn H.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Đoàn Văn H có 02 con chung là Đoàn Linh Tr, sinh ngày 04/03/2007 và Đoàn Thanh P, sinh ngày 26/02/2010.

Cháu Đoàn Linh Tr đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không đặt ra giải quyết.

Giao cháu Đoàn Thanh P cho chị Nguyễn Thị Hồng Nh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có quyết định có hiệu lực pháp luật khác của Tòa án thay thế.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Hồng Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đoàn Văn H được quyền thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, đất sản xuất nông nghiệp, nợ chung và công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo biên lai thu số: 0073268 ngày 11/4/2025.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyễn Thị Hồng Nh có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Đoàn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ