- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Lệ Quân kiện Trần Ngọc Tuấn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST Ngày 28/11/2025 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Yến Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Sỹ Tiến
2. Ông Vũ Văn Chương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt C – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Bà Trần Lệ Q, sinh năm 1984, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 31/10/2024;
Địa chỉ: số F P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Bị đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1979, vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn A, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trần Lệ Q trình bày:
Bà Trần Lệ Q và ông Trần Ngọc T tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 18 tháng 10 năm 2016.
Sau khi kết hôn, bà Q và ông T chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, không có sự yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Bà Q và ông T đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Ông T chuyển về Vũng Tàu sinh sống còn mẹ con bà Q vẫn ở lại Thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ khi ly thân ông T không còn quan tâm chăm sóc gì cho mẹ con bà Q. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Q yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 01 con là Trần Hiểu Đ, sinh ngày 18/7/2017. Bà Q yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Ngọc T: Tòa án tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố V phát biểu quan điểm:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn vắng mặt 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đang cư trú tại xã L, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, không có lý do chính đáng. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Lệ Q và ông Trần Ngọc T tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 18 tháng 10 năm 2016.
Sau khi kết hôn, bà Q và ông T chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, không có sự yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Bà Q và ông T đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Ông T chuyển về Vũng Tàu sinh sống còn mẹ con bà Q vẫn ở lại Thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ khi ly thân ông T không còn quan tâm chăm sóc gì cho mẹ con bà Q.
Kết quả xác minh tại địa phương xác định vợ chồng bà Q, ông T không còn chung sống với nhau, chỉ có ông T ở tại Thôn A, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T cũng thường xuyên đi làm ăn, vắng nhà nên địa phương không nắm được thông tin mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Q, ông T.
Tòa án tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông T vẫn vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q, có ý thức bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Q và ông T đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài, không có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Vì vậy yêu cầu của bà Q xin ly hôn là có cơ sở phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Có 01 con là Trần Hiểu Đ, sinh ngày 18/7/2017. Bà Q yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng cháu Đ yêu cầu sống với mẹ nên cần giao con cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), bà Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên công nhận.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Do bà Q là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông T không phải chịu án phí.
. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Trần Lệ Q đối với ông Trần Ngọc T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Lệ Q được ly hôn với ông Trần Ngọc T.
2. Về con chung: Bà Trần Lệ Q và ông Trần Ngọc T có 01 (một) con là Trần Hiểu Đ, sinh ngày 18/7/2017. Bà Trần Lệ Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Lệ Q về việc không yêu cầu ông Trần Ngọc T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, ông Trần Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Lệ Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà Trần Lệ Q phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021598 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Như vậy, bà Trần Lệ Q đã nộp xong án phí. Ông Trần Ngọc T không phải chịu án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
6. Về quyền yêu cầu thi hành: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 11 - TP. HCM; - Thi hành án Dân sự TP. HCM; - UBND xã Long Sơn, TP. HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Yến Oanh |