vanban.org

Bản án 50/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

92, Điều 180 và Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện lại vụ án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NGÂN HÀNG TMCP A- PHAM VĂN Q"
  • Tòa quyết gì? 92, Điều 180 và Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/DS-ST
Ngày: 15-7-2025
V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hải Quỳnh Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Lợi;

2. Ông Phạm Thế Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực

2 - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1687/2024/TLST- DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4538/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 5691/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á

Địa chỉ trụ sở: Số D đường N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh N - Địa chỉ liên hệ: Lầu

H Tòa nhà A, Số D - 446 đường C, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh (có đề nghị vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Văn Q (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Thôn H, xã H (trước là xã V, huyện V), thành phố Hải

Phòng.

Địa chỉ tạm trú: Số F đường V, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á trình bày Ngân hàng

Thương mại Cổ phần Á (từ đây viết là “Ngân hàng”) cấp tín dụng cho ông Phạm Văn Q thẻ tín dụng số 356795******0495 ngày 16/02/2022 loại thẻ JCB Gold hạn mức thẻ 100.000.000đồng, hiệu lực thẻ tháng 02/2025, lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông Q ký tháng 01/2022, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các văn bản khác của ông Q ký với Ngân hàng về việc sử dụng thẻ tín dụng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Q vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng, ngày 21/3/2023, Ngân hàng đã chuyển khoản thẻ sang nợ quá hạn đồng thời chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của ông Q. Ngày 18/10/2023, Ngân hàng ra Thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với thẻ tín dụng nêu trên. Tính đến ngày 18/10/2023, ông Q còn nợ Ngân hàng vốn gốc là 55.257.867đồng, lãi quá hạn là 13.240.213đồng. Ngày 01/11/2023, Ngân hàng nộp Đơn khởi kiện yêu cầu ông Q trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 18/10/2023 là 68.498.080đồng trong đó tiền nợ gốc là 55.257.867đồng, tiền lãi là 13.240.213đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tính kể từ ngày 19/10/2023 đến ngày trả hết nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đề

nghị vắng mặt, Bị đơn vắng mặt. Tuy nhiên tại Bản tự khai đề ngày 15/7/2025, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh N trình bày nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Q phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền còn thiếu tính đến ngày 15/7/2025 là 105.694.175đồng trong đó vốn gốc là 55.257.867đồng, tiền lãi quá hạn là 50.436.308đồng và ông Q còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của nguyên đơn kể từ ngày 16/7/2025 đến ngày trả hết nợ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền, tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng đúng quy định pháp luật; về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á – là tổ chức

tín dụng - khởi kiện ông Phạm Văn Q do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân” tháng 01/2022 ký kết giữa ông Q và Ngân hàng. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng”.

Về thẩm quyền giải quyết: Tại thời điểm ông Q ký kết “Giấy đề nghị

kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân”, ông Q ghi cư trú tại số A đường P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do đó Ngân hàng đã nộp Đơn khởi kiện ông Q tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập nhưng ông Q không đến Tòa án. Tiến hành thủ tục xác minh nơi cư trú của ông Q tại Ban chỉ huy Công an phường L xác định tại địa chỉ A đường P, phường L không có ai tên Phạm Văn Q đăng ký thường trú, tạm trú hay thực tế cư trú; xác minh tại Công an xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng xác định ông Q có nơi ở tại nhà số F đường V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; xác minh tại Ban chỉ huy Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xác định ông Q có đăng ký tạm trú nhưng không thực tế cư trú tại 6 đường V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối chiếu nội dung địa chỉ ông Q tại Đơn khởi kiện, tại “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân” với kết quả xác minh của Công an và điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh).

Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền

của Ngân hàng có đề nghị vắng mặt, ông Q đã được Toà án triệu tập thông qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á yêu cầu ông Q thực hiện nghĩa vụ

thanh toán số tiền nợ gốc do vi phạm thỏa thuận tính đến ngày 15/7/2025 là 55.257.867đồng. Ngân hàng khởi kiện ông Q, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Q đến Tòa để tham gia tố tụng, giải quyết vụ án nhưng ông Q không đến. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ do Ngân hàng giao nộp, Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015 về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay, chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của Ngân hàng.

Tại “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

dành cho khách hàng cá nhân” tháng 01/2022, ông Q xác định “…đã đọc, hiểu rõ và đồng ý bị ràng buộc bởi Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng cá nhân… của Ngân hàng TMCP Á”. Đối chiếu quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng và tại Quy định biểu phí lãi suất của Ngân hàng với bảng kê tính lãi đến ngày 15/7/2025 của Ngân hàng nộp. Căn cứ thỏa thuận của các bên với Bảng kê tính lãi do Ngân hàng giao nộp và Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91 của Luật Các Tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc ông Q phải trả cho Ngân hàng số tiền lãi tính đến ngày 15/7/2025 là 50.436.308đồng.

Từ [2.1] và [2.2], tính đến ngày 15/7/2025, ông Q phải thanh toán cho Ngân

hàng tổng cộng là 105.694.175đồng.

Về án phí Dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được

Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông Q phải chịu án phí dân sự: 105.694.175đồng x 5% = 5.284.709đồng; Ngân hàng không phải chịu án phí, trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ

Chí Minh được Hội đồng xét xử chấp nhận như nhận định trên

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều

92, Điều 180 và Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 357, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;

- Điều 4, Điều 91 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010;

- Điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày

05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện lại vụ án;

- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ

phần Á: Buộc ông Phạm Văn Q thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền nợ gốc là 55.257.867đ (Năm mươi lăm triệu, hai trăm năm mươi bảy ngàn, tám trăm sáu mươi bảy đồng), tiền lãi tính đến ngày 15/7/2025 là 50.436.308đ (Năm mươi triệu, bốn trăm ba mươi sáu ngàn, ba trăm lẻ tám đồng), tổng cộng tính đến ngày 15/7/2025 là 105.694.175đ (Một trăm lẻ năm triệu, sáu trăm chín mươi bốn ngàn, một trăm bảy mươi lăm đồng).

Buộc ông Phạm Văn Q có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày

16/7/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân” tháng 01/2022 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc thanh toán do ông

Phạm Văn Q và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á tự thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn Q phải chịu án phí là

5.284.709đ (Năm triệu, hai trăm tám mươi bốn ngàn, bảy trăm lẻ chín đồng). Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.712.452đ (Một triệu, bảy trăm mười hai ngàn, bốn trăm năm mươi hai đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001423 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 2 Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, ông

Phạm Văn Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án. Viện kiểm dân nhân dân có quyền kháng nghị Bản án theo quy định pháp luật.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều

2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung./.

Cỡ chữ