vanban.org

Bản án 50/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Vũ Văn S 09 (chín) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/3/2024. Về trách Nệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HSST
Ngày 13/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hà Giang và bà Lê Thu Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Chuẩn, Kiểm sát viên.

Ngày 13/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 02/7/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn S sinh năm 1998; tại xã S, huyện L, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú bản 1, xã S, huyện L, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (không xác định được nơi cư trú); mẹ kế Lò Thị Th; vợ con chưa có. Tiền sự: Không; tiền án: Không. Nhân thân, tại Quyết định số 55/QĐ-XPHC ngày 10/6/2024 của Công an huyện Y xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc" xảy ra vào ngày 14/12/2023 và ngày 19/01/2024. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y cho đến nay; có mặt.

Người bị hại:

- Chị Trần Thị Ý N sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú 34 Trần Quang Diệu, thị trấn Phù Mỹ, huyện M, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện nay số 193, Hoàng Quốc Việt, phường H, thanh phố L tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

- Chị Đặng Thị Thuỳ Lsinh năm 1992, nơi cư trú phố 6, trị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ cuối năm 2020 S sử dụng điện thoại Iphone 7 sim thuê bao 0836356773 đăng ký tài khoản zalo có tên là “Bình Yên” vào mạng và quen biết hai tài khoản zalo là “Anh Quốc” và “Người dưng” (S không biết thông tin cụ thể, tên tuổi, địa chỉ của chủ 02 tài khoản zalo này). Qua nói chuyện hai người này bảo S mở tài khoản ngân hàng để nhận tiền từ các tài khoản khác sau đó chuyển số tiền được nhận vào các tài khoản game online trên các trang mạng (cũng do S lập nhưng cung cấp tên và mật khẩu cho hai đối tượng “Anh Quốc” và “Người dưng” cùng quản lý), mỗi lần chuyển tiền thành công hai người này trả công cho S 20% trên tổng số tiền giao dịch. Sau đó S đến Ngân hàng Techcombank chi nhánh Trần Điền ở quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội mở tài khoản số 5174191234 để thực hiện các giao dịch nhận, chuyển tiền như thỏa thuận. Đến cuối năm 2023 hai người này nhắn tin zalo rủ S tham gia lừa đảo trên mạng S đồng ý. Mặc dù không có hàng và không thực hiện việc mua bán hàng trên mạng nhưng cả nhóm thống nhất lên các nhóm trên mạng xã hội Facebook đăng bài bán hàng, sau đó khi người mua hàng tin tưởng chuyển tiền vào tài khoản thì nhóm sẽ chặn liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận, mỗi lần S sẽ được 20% số tiền mà các đối tượng chiếm đoạt được. Nhóm của S phân công một người đăng bài bán hàng, một người nghe và tư vấn sản phẩm, còn S sẽ đóng giả người giao hàng và nhận tiền, khi có người chuyển tiền đến thì S sẽ chuyển vào tài khoản đánh bạc mà S lập để các đối tượng giao dịch, sử dụng. Bằng hình thức như trên nhóm của S đã thực hiện chiếm đoạt tiền của 02 người; cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 14/12/2023 nhóm của S vào trong nhóm thanh lý và mua bán “Tủ hấp” trên mạng xã hội Facebook, để đăng bán “Tủ hấp” với mục đích lừa lấy tiền của những người có nhu cầu mua. Trong đó 01 đối tượng lập và sử dụng tài khoản “Mùa Thu” nhắn tin tư vấn sản phẩm, còn S có vai trò sau khi nhận tiền vào tài khoản Ngân hàng Techcombank số 5174191234 sẽ chuyển tiền này vào tài khoản game “Sonblbl98”; mật khẩu “hanoi2023as”; tên hiện thị là “ZAD191”. Sáng ngày 14/12/2023 chị N địa chỉ số 193, Hoàng Quốc Việt, phường Hoa Lư, thành phố Pleike, tỉnh Gia Lai sử dụng tài khoản Facebook mang tên “N Plk” vào trong nhóm và hỏi mua thì đối tượng sử dụng tài khoản “Mùa Thu” nhắn với chị N nói đang có tủ để bán với giá 6.000.000 đồng và yêu cầu chị N chuyển khoản đặt cọc trước 2.300.000 đồng. Để tạo sự tin tưởng người này nói có xe chở sầu riêng vào thành phố Hồ Chí Minh và đi qua tỉnh Gia Lai thì sẽ gửi “Tủ hấp” cho chị N đồng thời chụp hình ảnh của tủ, xe chở hàng và số điện thoại gửi cho chị N nói là xe đang chờ chuyển tủ lên. Chị N tin tưởng nên đã chuyển khoản số tiền 2.300.000 đồng từ tài khoản số 6211118595 tại Ngân hàng BIDV của mình vào số tài khoản người này cung cấp là tài khoản số 5174191234 tại Ngân hàng Techcombank của S. Sau khi chị N chuyển tiền xong thì nhóm của S chặn liên lạc với chị N, còn S chuyển toàn bộ số tiền trên vào tài khoản đánh bạc trực tuyến như thống nhất từ trước. Số tiền chiếm đoạt được S sử dụng 470.000 đồng để đánh bạc bằng hình thức “Bắn súng” và thua hết, còn lại 1.830.000 đồng thì S không biết hai người trên sử dụng như thế nào.

Lần thứ 2: Ngày 19/01/2024 nhóm của S tiếp tục vào nhóm Hội Revew & Thanh lý Máy hút sữa không dây (ELVIE; WILLOW, FAT, IMANI…) trên mạng xã hội Facebook đăng bán “Máy hút sữa”; trong đó 01 đối tượng lập và sử dụng tài khoản “Mùa Hoa Sữa” đăng bài bán hàng, 01 người sử dụng tài khoản “Thu Mùa” để nhắn tin tư vấn sản phẩm, còn S được giao Nệm vụ đóng giả là người giao hàng. Thời điểm này chị Lđịa chỉ ở phố 6, trị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình sử dụng tài khoản Facebook “Đặng Thùy Linh” truy cập vào nhóm thấy bài đăng nên đã nhắn tin hỏi mua. Một lúc sau chị Lnhận được tin nhắn qua messenger của tài khoản Facebook “Thu Mùa” nói là người này đang có “Máy hút sữa” để bán. Chị Lnghĩ người này có bán máy nên đồng ý mua với giá là 2.000.000 đồng và đề nghị thanh toán tiền khi đã nhận được hàng. Để tạo niềm tin, người này nói sẽ chuyển “Máy hút sữa” qua xe tải và chị Lthanh toán tiền cho lái xe. Sau đó người này lại nói lái xe cho Công ty nên họ không có tiền để ứng rồi bảo chị Lthanh toán qua chuyển khoản. Cùng thời điểm này S sử dụng tài khoản Zalo có tên là “Bình Yên” nhắn tin, gọi điện cho chị Lnói dối mình là lái xe giao hàng “Máy hút sữa” và đề nghị gửi vị trí để nhận hàng; đồng thời sử dụng số điện thoại 0836356773 để gọi điện nói chuyện làm chị Ltin tưởng “Máy hút sữa” đang được chuyển đến địa chỉ của mình để chị Lchuyển tiền. Sau khi tin tưởng máy đang được chuyển đến, chị Lchuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản số 4830877596 tại Ngân hàng BIDV của mình đến tài khoản số 5174191234 tại Ngân hàng Techcombank của S theo hướng dẫn. Sau khi nhận được tiền, S chặn số liên lạc của chị Lvà chuyển toàn bộ số tiền trên vào tài khoản đánh bạc trực tuyến. Số tiền chiếm đoạt S được chia 600.000 đồng và S đã sử dụng đánh bạc bằng hình thức “Bắn súng” và thua hết, còn lại 1.400.000 đồng thì S không biết hai người trên sử dụng như thế nào.

Sau khi chuyển tiền nhưng không nhận được “Máy hút sữa” và không liên lạc được với những người bán; biết bị lừa nên chị Llàm đơn trình báo gửi Công an huyện Y. Quá trình điều tra xác minh, Cơ quan điều tra triệu tập S lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra S khai nhận đã thực hiện hành vi lừa đảo như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp 01 Điện thoại Iphone 7 lắp sim số 0836356773 là điện thoại S sử dụng để nhắn tin, gọi điện lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày Luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo S từ 09 tháng đến 12 tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/3/2024.

- Về xử lý vật chứng và trách Nệm dân sự: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, và 589 của Bộ luật Dân sự.

+) Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7, riêng sim điện thoại thuê bao số 0836356773 thì tịch thu tiêu hủy.

+) Buộc bị cáo S phải bồi thường số tiền 2.300.000 đồng cho chị Trần Thị Ý N và 2.000.000 đồng cho chị Đặng Thị Thuỳ Linh.

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo S khai nhận hành vi của mình như nội dung Cáo trạng là đúng. Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, thủ đoạn, hành vi của bị cáo và số tiền chiếm đoạt; nên có đủ cơ sở khẳng định:

Ngày 14/12/2023 S vào mạng xã hội Facebook để tham gia đăng bán “Tủ hấp” với mục đích lừa lấy tiền của những người có nhu cầu mua. Sau đó chị N sử dụng tài khoản Facebook vào trong nhóm hỏi mua, thì được nhắn tin lại bán với giá 6.000.000 đồng và yêu cầu chị N chuyển khoản đặt cọc trước 2.300.000 đồng. Chị N tin tưởng và đã chuyển khoản 2.300.000 đồng từ tài khoản của mình vào số tài khoản của S. Sau khi chị N chuyển tiền xong thì S chặn liên lạc với chị N và chiếm đoạt toàn bộ số tiền này của chị N.

Ngày 19/01/2024 S tiếp tục vào mạng xã hội Facebook tham gia đăng bán “Máy hút sữa”. Thời điểm này chị Lsử dụng tài khoản Facebook truy cập vào nhóm thấy nên đã nhắn tin hỏi và đồng ý mua với giá là 2.000.000 đồng. Cùng thời điểm này S sử dụng tài khoản Zalo nhắn tin, gọi điện cho chị Lnói dối mình là lái xe giao “Máy hút sữa” và đề nghị chị Lchuyển tiền. Chị Ltin tưởng chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản của mình đến tài khoản của S. Sau khi nhận được tiền, S chặn số liên lạc của chị Lvà chiếm đoạt toàn bộ số tiền này của chị Linh.

Hành vi nêu trên của S là gian dối; để được chị N, chị Ltin tưởng đã chuyển tiền vào tài khoản cho S; sau đó S chặn số điện thoại của chị N, chị Lkhông cho liên lạc, nhằm chiếm đoạt tài sản của chị N, chị Linh. Hành vi của bị cáo S là trái pháp luật, đã xâm phạm đến tài sản của người khác. Với trị giá tài sản chiếm đoạt như trên, nên bị cáo S đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo S về tội danh và điều luật như Cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách Nệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần đây là tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn bố bị cáo đã chết, mẹ đẻ của bị cáo không xác định được nơi cư trú” theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vào số lần và số tiền chiếm đoạt; cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằn mục đích cải tạo, giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng, nhưng có 02 tình tiết giảm nhẹ, nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo S không có tài sản, nên không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách Nệm dân sự: Chị N yêu cầu S phải trả lại số tiền là 2.300.000 đồng; chị Lyêu cầu S phải trả lại số tiền là 2.000.000 đồng. Nên buộc S phải trả lại cho chị N và chị Lsố tiền đã chiếm đoạt nêu trên.

Về biên pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm “01 điện thoại Iphone 7 lắp sim số 0836356773”; đây là tài sản của S sử dụng làm phương tiện phạm tội; nên tịch thu sung quỹ Nhà nước; riêng sim điện thoại thì tịch thu tiêu hủy.

Đối với các tài khoản zalo “Anh Quốc”, “Người dưng” và tài khoản Facebook “Thu Mùa” là của những đối tượng cùng thực hiện hành với S, nhưng S không biết tên, tuổi, địa chỉ của hai người này; nên quá trình điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ, xử lý đối với những người này.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại đều không có khiếu nại gì; nên hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí:

- Án phí hình sự: Bị cáo S bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Án phí dân sự: Bị cáo S phải trả lại cho chị N số tiền là 2.300.000 đồng, nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; trả lại cho chị Lsố tiền là 2.000.000 đồng, nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Vũ Văn S 09 (chín) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/3/2024.

3. Về trách Nệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

- Buộc bị cáo Vũ Văn S phải trả lại cho chị Trần Thị Ý N số tiền đã chiếm đoạt là 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng).

- Buộc bị cáo Vũ Văn S phải trả lại cho chị Đặng Thị Thuỳ Lsố tiền đã chiếm đoạt là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Kể từ ngày chị N, chị Lcó đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bị cáo S phải trả lại tiền chiếm đoạt của chị N, chị Lcho đến khi thi hành án xong, hằng tháng bị cáo S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự

4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7, riêng sim điện thoại thuê bao số 0836356773 thì tịch thu tiêu hủy. Vật chứng có đặc điểm tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Văn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại là chị N, chị Lcó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ