vanban.org

Bản án 50/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 26/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn M 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/01/2024).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn M, Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST
Ngày 26 – 4 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình và ông Nguyễn Thế Khải

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lưu Văn M, sinh ngày 13/4/2004, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Làng Hà, xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn L1 và bà Trần Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 25/05/2021 của Công an xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo xử phạt Lưu Văn M 750.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản, ngày 26/05/2021, M chấp hành Quyết định xử phạt. Ngày 21/01/2024 Lưu Văn M bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Bị hại: Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc; địa chỉ: Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Vũ T1 – Hiệu trưởng

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân T2 – Phó trưởng khoa Động Lực trường cao đẳng nghề Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Văn M là học sinh cũ của Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc. Ngày 27/10/2023, M vào chơi với một số bạn đang học ở Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, M đi từ ký túc xá của Trường ra quán Internet chơi bằng cách trèo qua cổng phụ để ra ngoài. Khi đi qua xưởng của Khoa động lực nằm trong khuôn viên Trường thì M quan sát qua ô kính cửa sổ và nhìn vào bên trong xưởng thấy có 04 chiếc xe máy đang dựng bên trong xưởng trong đó có 02 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH và 02 xe máy nhãn hiệu khác. Do không có tiền tiêu xài nên M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là xe máy. Tuy nhiên, do thời điểm này còn sớm sợ bị phát hiện, nên M chưa thực hiện hành vi. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 28/10/2023, M đột nhập vào Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc bằng cách trèo qua cổng phụ số 1 nằm trên đường Nguyễn Trinh thuộc phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, sau đó, M đến trước xưởng Khoa động lực và trèo qua ô thông gió gần cửa số 1 của xưởng, đi vào bên trong (M không bật điện, phòng đủ sáng để M quan sát được sự vật do đèn đường hắt qua cửa sổ và khe tường chiếu sáng). Với mục đích trộm cắp xe máy nên M đi tìm chìa khóa cửa trong 01 phòng có cửa 2 cánh màu trắng có ô kính, M kéo cánh cửa này ra và đi vào bên trong thì thấy 1 chùm chìa khóa để trên bàn làm việc gần lối ra vào. M cầm chùm chìa khóa đó và đi ra cửa thứ nhất và thử từng chìa thì thấy có một chìa mở được khóa. M tháo chìa ra khỏi chùm và mở khoá, mang chùm chìa khóa còn lại để vào chỗ cũ. M dắt 01 chiếc xe Honda SH loại 150i, không có biển số, màu đỏ-đen ra cửa thứ nhất rồi mở cửa. Sau đó dắt xe ra và khóa ngoài cửa ra vào thứ nhất và rút chìa khóa, để vào túi quần. M để xe gần xưởng, đi qua lại cổng chính trên đường Nguyễn Tất Thành xem có bảo vệ không. Khi không thấy bảo vệ, M mở cổng chính là dạng cổng xếp và dắt xe qua rồi khép cổng lại. M dắt xe ra gần quán internet Cybergame ở đường Nguyễn Trinh, phường Liên Bảo thì M dựng xe trên vỉa hè và đi vào quán nét nhờ Nghiêm Hải L ra giúp dắt xe vào trong quán. Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, M nhờ L2 tìm giúp M ắc quy và dụng cụ cơ khí để M sửa xe máy. L2 không có và bảo M vào ký túc xá tìm gặp Lê Nguyễn Việt H để mượn dụng cụ và ắc quy do H có xe máy. M nhờ H đi cùng và sửa xe máy Honda SH, còn L2 về ký túc xá nghỉ ngơi. M và H ra quán Internet Cybergame và thay thế ắc quy xe của H vào xe Honda SH 150i do M trộm cắp nhưng thay xong thì xe vẫn không nổ máy được nên H lại tháo ra lắp lại như ban đầu. Sau đó, M nhờ H đẩy xe đến gần khu công nghiệp Bá Thiện 2, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để bán xe nhưng do sáng sớm nên không tìm được người mua. Lúc này, M bảo H cùng đi ra khu vực thị trấn Hợp Châu, huyện Tam Đảo thì H bảo bận phải quay về đi làm. M hỏi H có chỗ nào để nhờ xe không thì H đưa M đến gửi xe tại xưởng cơ khí của cậu ruột H là anh Nguyễn Trịnh D. Sau đó, M và H quay lại Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc để H đi làm còn M ra quán internet chơi điện tử. Khoảng 10 giờ cùng ngày, M quay lại xưởng của anh D để lấy xe, M dắt xe đến quán sửa xe máy của anh Nguyễn Văn Q cách đó khoảng 200m và gửi nhờ xe tại đó.

Ngày 31/10/2023, Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc phát hiện chiếc xe trên bị trộm cắp nên đã làm đơn trình báo Công an phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên. Cơ quan Công an đã tiến hành xác minh xác định chiếc xe trên đang để tại quán sửa xe của anh Q. Anh Q đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe trên để phục vụ quá trình điều tra.

Ngày 05/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên ra yêu cầu số 201 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Vĩnh Yên định giá đối với chiếc xe máy Honda SH loại 150i, sơn màu đỏ - đen không có BKS do Công ty Honda Việt Nam sản xuất năm 2019.

Tại kết luận định giá tài sản số 177/KL- HDĐG ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Vĩnh Yên kết luận chiếc xe máy nêu trên có trị giá 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).

Tại Cáo trạng số: 56/CT-VKSNDTPVY ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Lưu Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lưu Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.

Bị hại: Ông Nguyễn Xuân T2 đại diện theo ủy quyền của Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc tại phiên tòa vắng mặt quá trình điều tra ông T2 trình bày như nội dung bản cáo trạng nêu trên. Ông T2 đã được Cơ quan điều tra trả lại 01 xe máy SH, ông không yêu cầu bị cáo M bồi thường khoản tiền gì.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lưu Văn M từ 1 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 25/01/2024); Căn cứ khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc 01 xe máy Honda SH loại 150i, sơn màu đỏ đen không có biển kiểm soát.

Bị cáo Lưu Văn M không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Lưu Văn M tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 01 giờ ngày 28/10/2023, tại Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc thuộc phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Lưu Văn M đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy Honda SH, sơn màu: Đỏ - Đen, không có biển kiểm soát, trị giá tài sản theo kết luật định giá là 40.000.000đ.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lưu Văn M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 6 tháng năm đến 3 năm.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

Hành vi phạm tội của bị cáo M đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 3 năm nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.

Bị cáo M là người có nhân thân xấu, bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Đối với người có liên quan trong vụ án:

Đối với Nghiêm Hải L2 là người M nhờ dắt giúp xe vào quán Internet và anh Lê Nguyễn Việt H là người giúp M đẩy xe tìm chỗ bán, quá trình điều tra xác định anh L2 và anh H không biết nguồn gốc chiếc xe là do M phạm tội mà có. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L2 và anh H.

Đối với anh Nguyễn Văn Q là người được M nhờ trông, giữ hộ xe máy để M tìm chỗ bán, quá trình điều tra xác định: Do có quen biết với M nên khi M đến gửi xe, anh Q đồng ý và không trao đổi gì. Anh Q không biết chiếc xe máy M gửi là tài sản do phạm tội mà có và anh Q cũng không được hưởng lợi gì từ việc nhận gửi xe hộ. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Q.

Đối với anh Trần Văn M và ông Ngô Văn T3 là bảo vệ Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc. Trong ca trực đêm ngày 27 rạng sáng ngày 28/10/2023 của anh M và ông T3, cả hai đã thiếu trách nhiệm trong việc quản lý tài sản dẫn đến việc nhà trường bị mất tài sản như trên. Tuy nhiên, chiếc xe máy trên đã được thu giữ, đại diện nhà trường không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe máy Honda SH loại 150i, sơn màu đỏ - đen, không có biển kiểm soát, quá trình điều tra xác định nguồn gốc do Công ty Honda Việt Nam sản xuất năm 2019 đã qua sử dụng, ngày 20/6/2023 được trao tặng cho Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc để phục vụ giảng dạy nên cần trả lại cho Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc để tiếp tục sử dụng cho công tác giảng dạy.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Xuân T2 là đại diện theo ủy quyền của Trường cao đẳng nghề Vĩnh Phúc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền gì nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn M 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/01/2024).

3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc 01 xe máy Honda SH loại 150i, sơn màu đỏ - đen, không có biển kiểm soát (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 4 năm 2024).

4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lưu Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ