- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 50/2024/HS-ST Ngày: 22/03/2024 |
QUẬN HỒNG BÀNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Chung. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Hải; Bà Nguyễn Thị Minh Phương. - Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Văn M, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1998 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn V, xã Q, huyện AD, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; con ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị B; có vợ là Nguyễn Thị Kim Tr và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/9/2023, đến ngày 05/10/2023 chuyển tạm giam, đến ngày 18/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh - Có mặt. - Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 26/9/2023, Nguyễn Văn M được đối tượng tên Dương (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) là bạn xã hội của M gọi điện qua Zalo rủ đi đánh nhau, M đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Dương điều khiển xe mô tô Honda AirBlade Biển kiểm soát: 15C1-503.67 đến đón M. Khi đi, M mang theo 01 khẩu súng cất trong 01 túi đeo chéo. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Dương chở M đến khu vực đầu ngõ 33 Quốc lộ 5 mới, thuộc tổ dân phố An Trì, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng để tụ tập với nhóm của Dương có khoảng hơn 10 người. Nhóm thanh niên này mang theo nhiều hung khí, gồm gậy bóng chày, kiếm; trong đó, M được 01 thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đưa cho 01 gậy bóng chày. Sau đó, nhóm có mâu thuẫn với Dương gồm nhiều thanh niên (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi trên 02 xe ô tô, trong đó có 01 xe ô tô Mazda CX5 màu trắng và nhiều xe mô tô khác (gọi tắt nhóm này là “nhóm Mazda CX5”) đến khu vực đầu ngõ 33 Quốc lộ 5 mới, thuộc tổ dân phố An Trì thì 02 nhóm xông vào đánh nhau. Cả hai nhóm dùng gạch, đá ném về phía nhau, trong lúc xô xát, M có nhặt 02 viên đá ở ven đường ném về phía nhóm Mazda CX5. Qúa trình đánh nhau, có 01 đối tượng bắn 02 phát súng nhưng không trúng ai; hiện chưa xác định được người bắn súng, hướng bắn, loại súng. Hai bên ném nhau một lúc thì nhóm Mazda CX5 lên xe đi về phía ngã tư Metro, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng. Nhóm của M đuổi theo để đánh nhưng không đánh được ai (lúc này M vẫn cầm theo gậy bóng chày). Sau đó, một đối tượng trong nhóm của M thu các hung khí đã phát lại rồi Dương điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 15C1-503.67 chở M chạy về phía bờ sông An Trì thì bị lực lượng Công an dừng phương tiện kiểm tra. Lúc này, Dương và M để lại xe bỏ chạy, M vất 01 túi đeo chéo bên trong có chứa 01 khẩu súng tại trước cửa số nhà 15/11/3 Quốc lộ 5 mới, thuộc tổ dân phố An Trì, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng. Xe mô tô Biển kiểm soát: 15C1- 503.67, 01 túi đeo chéo và 01 khẩu súng nêu trên đã được Công an phường Hùng Vương thu giữ. Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã thu giữ 02 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng nâu dài 22,5mm, đường kính 11,4mm, đáy có ký hiệu “W C C 46”, phần thân vỏ đạn bị móp méo tại khu vực đầu ngõ 33 Quốc lộ 5 mới, thuộc tổ dân phố An Trì, phường Hùng Vương. Ngày 26/9/2023, Tổ dân phố An Trì họp đề nghị Công an quận Hồng Bàng xử lý nghiêm vụ việc đánh nhau giữa hai nhóm thanh niên trên, gây mất an ninh trật tự và gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân tại khu phố. Cùng ngày, Ủy ban nhân dân phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng có Công văn số 171/CV gửi Công an quận Hồng Bàng đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng trên về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Tại Kết luận giám định số 25/KL-KTHS ngày 12/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Khẩu súng gửi giám định là súng bắn bi thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm, không phải vũ khí quân dụng … Hiện tại khẩu súng này không sử dụng để bắn được nên không đủ cơ sở để kết luận có bắn ra đầu đạn, vỏ đạn của các vụ án trước khác hiện lưu tại Phòng Kỹ thuật hình sự hay không và xác định tính sát thương khi bắn đạn vào cơ thể người; 02 (hai) vỏ đạn gửi giám định là vỏ đạn của đạn cỡ 11,43x22,5mm, thuộc vũ khí quân dụng. Loại đạn này sử dụng cho súng quân dụng và súng tự chế bắn đạn cỡ 11,43x22,5mm. 02 vỏ đạn này không được bắn ra từ khẩu súng gửi giám định”. Tại Kết luận giám định số 8451/KL-KTHS ngày 01/12/2023 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Khẩu súng bắn ra 02 vỏ đạn gửi giám định không bắn ra các vỏ đạn của các vụ án khác hiện lưu trong Tàng thư dấu vết súng đạn của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an”. Sau khi sự việc xảy ra, cùng ngày 26/9/2023, Nguyễn Văn M đã đến Cơ quan Công an đầu thú khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người biết sự việc; vật chứng thu giữ, các Kết luận giám định, dữ liệu trích xuất hình ảnh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Về vật chứng thu giữ: Đối với 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng nâu dài 22,5mm, đường kính 11,4mm, đáy có ký hiệu “W C C 46”, phần thân vỏ đạn bị móp méo thu giữ tại hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã nhập kho vật chứng để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau. Đối với 01 (một) xe mô tô Honda AirBlade Biển kiểm soát: 15C1-503.67, quá trình điều tra xác định là tài sản sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị Phương Y. Ngày 26/9/2023, chị Yến cho đối tượng tên Dương (là khách quen tại quán bi-a của chị Y) mượn xe nhưng không biết Dương mượn để đi đánh nhau, chị Y không biết lai lịch của Dương. Sau khi hoàn tất điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Y theo quy định. Đối với 01 (một) túi đeo chéo; 01 (một) áo phông trắng và 01 (một) quần đùi màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn M chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng. Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSHB ngày 02-02-2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn M về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn M nhận tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người biết sự việc; vật chứng thu giữ, các Kết luận giám định, dữ liệu trích xuất hình ảnh; các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng. Bị cáo có thái độ ăn năn về hành vi phạm tội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn M từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Đối với các đối tượng còn lại trong vụ việc nêu trên và 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng nâu dài 22,5mm, đường kính 11,4mm, đáy có ký hiệu “W C C 46” đã thu giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 05/QĐ-ĐCSHS ngày 02/01/2024 để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau. Đối với khẩu súng bắn bi thu giữ của M, Cơ quan Công an quận Hồng Bàng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 02/01/2024 đối với M về hành vi tàng trữ trái phép đồ chơi nguy hiểm bị cấm số tiền 6.500.000 đồng; tịch thu khẩu súng bằng kim loại màu đen, dạng ổ quay kích thước 19cmx13,5cm, trên thân súng có ký hiệu: 20TH4894, phần ốp tay cầm bằng nhựa màu đen có ký hiệu WG. Đối với 01 (một) túi đeo chéo; 01 (một) áo phông trắng và 01 (một) quần đùi màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn M là tài sản của bị cáo, tuy nhiên bị cáo không nhận lại và xác định không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: - Về tố tụng [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Tại phiên tòa, người làm chứng là ông Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do. Xét thấy, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; việc vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử; tại phiên tòa, bị cáo, Kiểm sát viên đều đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người làm chứng do trước đó người làm chứng đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với người làm chứng. - Về nhận định các tình tiết của vụ án: [3] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của những người biết sự việc; vật chứng thu giữ, các Kết luận giám định, dữ liệu trích xuất hình ảnh; các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại khu vực đầu ngõ 33 Quốc lộ 5 mới, thuộc tổ dân phố An Trì, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn M đã có hành vi cùng đồng bọn dùng hung khí gồm gậy bóng chày, kiếm, gạch đá đuổi đánh nhau với một nhóm thanh niên khác, gây náo loạn, mất trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu tình hình an ninh trật tự chung của địa phương. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm mà bị cáo thực hiện hoàn thành từ thời điểm bị cáo cùng với các đối tượng khác sử dụng hung khí gồm gậy bóng chày, kiếm, gạch đá đuổi đánh nhau gây náo loạn. Do vậy, đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. [4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi vi phạm của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự xã hội tại địa phương được pháp luật bảo vệ, nên cần phải xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo ra đầu thú; mặt khác bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên coi đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. - Về vai trò và hình phạt:
Về vai trò: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; lời khai của bị cáo; lời khai của người làm chứng và dữ liệu Camera trích xuất thể hiện: Trong vụ án này có các đối tượng khác tham gia vào sự việc nêu trên. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo và các đối tượng khác thể hiện tính đồng phạm giản đơn. Khi hai bên xảy ra xô xát, bị cáo chỉ có hành vi dùng 02 viên đá ở ven đường ném về phía nhóm Mazda CX5 và cầm gậy bóng chày đuổi theo nhóm nhóm Mazda CX5 nhưng không gây thương tích cho các đối tượng khác. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn M có mức độ như đã phân tích tại mục [3]. Đối với các đối tượng khác, hiện chưa xác minh được lý lịch, nên chưa đủ căn cứ xem xét vai trò của từng đối tượng trong vụ án này. [8] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thích hợp mới đảm bảo quy định của pháp luật nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội như đã phân tích tại [3]; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích tại mục [5] và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặt khác, ngoài hành vi bị xem xét lần này ra, bị cáo luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật. Do đó, áp dụng hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở. [9] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi đeo chéo; 01 (một) áo phông trắng và 01 (một) quần đùi màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn M là tài sản của bị cáo, tuy nhiên bị cáo không nhận lại và xác định không còn giá trị sử dụng. [10] Về các vấn đề khác: [10.1] Đối với các đối tượng còn lại trong vụ việc nêu trên chưa xác định được lai lịch, địa chỉ và 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng nâu dài 22,5mm, đường kính 11,4mm, đáy có ký hiệu “W C C 46” đã thu giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 05/QĐ- ĐCSHS ngày 02/01/2024 để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ. [10.2] Đối với khẩu súng bắn bi thu giữ của M, Cơ quan Công an quận Hồng Bàng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 02/01/2024 đối với M về hành vi tàng trữ trái phép đồ chơi nguy hiểm bị cấm số tiền 6.500.000 đồng; tịch thu khẩu súng bằng kim loại màu đen, dạng ổ quay kích thước 19cmx13,5cm, trên thân súng có ký hiệu: 20TH4894, phần ốp tay cầm bằng nhựa màu đen có ký hiệu WG là có căn cứ. [10.3] Đối với 01 (một) xe mô tô Honda AirBlade Biển kiểm soát: 15C1- 503.67, quá trình điều tra xác định là tài sản sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị
Phương Y, chị Y cho đối tượng tên Dương (là khách quen tại quán bi-a của chị Y) mượn xe nhưng không biết Dương mượn để đi đánh nhau. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Y là có căn cứ. [11] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn M 27 (hai mươi bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện AD, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau: “1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó. 2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú,
lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan. 3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này. 4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”. - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Bảo Lĩnh” đối với Nguyễn Văn M. - Về xử lý tài sản, vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi đeo chéo; 01 (một) áo phông trắng và 01 (một) quần đùi màu xanh đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng. (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 05-02-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng). - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 06 Công an TP. Hải Phòng; - CA quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - UBKT huyện ủy An Dương; - UBND nơi cư trú của bị cáo; Nguyễn Hữu Chung - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |