vanban.org

Bản án 50/2024/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc P với anh Trương Duy C.

Chị Nguyễn Thị Ngọc P được ly hôn với anh Trương Duy C. Quan hệ hôn nhân của chị P và anh C chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: có 02 con chung tên Trương Kim P1, sinh ngày 30/01/2005 và Trương Duy P2, sinh ngày 09/12/2008. Cháu P1 đã trưởng thành, giao cháu Trương Duy P2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị P xin ly hôn anh Trương Duy C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc P với anh Trương Duy C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Hồng Hà

2. Bà Lê Hải Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST -HN ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa:

* Nguyên đơn:

Chị Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1985. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: số D, khu phố B, phường H, Thành phố B, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn:

Anh Trương Duy C, sinh năm 1984. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: số D, khu phố B, phường H, Thành phố B, tỉnh Bến

Tre.

Chỗ ở hiện nay: số A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/04/2024 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc P trình bày:

Chị và anh C kết hôn vào năm 2004, trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H. Quá trình chung sống có hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh C.

Về con chung: có 02 con chung tên Trương Kim P1, sinh ngày 30/01/2005 và Trương Duy P2, sinh ngày 09/12/2008; Cháu P1 đã trưởng thành, chị P yêu cầu được nuôi cháu P2, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tại Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 03/6/2024, bị đơn anh Trương Duy C trình bày:

Vì lý do sức khỏe, anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Về hôn nhân: anh đồng ý ly hôn.

Con chung: anh đồng ý giao cháu P2 cho chị P nuôi dưỡng, cháu P1 đã trưởng thành.

Tài sản chung, nợ chung: không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: về tố tụng: không vi phạm tố tụng; về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của kiểm sát viên, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Chị P và anh C có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử vắng mặt chị P và anh C là phù hợp với Điều 227, 288 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc P và anh Trương Duy C kết hôn vào năm 2018, trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 26/6/2004 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không phù hợp. Nay chị P yêu cầu được ly hôn, anh C đồng ý ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị P và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P yêu cầu ly hôn với anh C là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: có 02 con chung tên Trương Kim P1, sinh ngày 30/01/2005 và Trương Duy P2, sinh ngày 09/12/2008. Cháu P1 đã trưởng thành, chị P yêu cầu được nuôi cháu P2, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, anh C đồng ý giao cháu P2 cho chị P nuôi dưỡng. Nên cần tiếp tục giao cháu P2 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của con.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị P không yêu cầu nên không xét đến.

Về tài sản chung, nợ chung: hai bên khai không có nên không xét đến.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị P phải chịu án phí là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 55, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc P với anh Trương Duy C.

Chị Nguyễn Thị Ngọc P được ly hôn với anh Trương Duy C. Quan hệ hôn nhân của chị P và anh C chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: có 02 con chung tên Trương Kim P1, sinh ngày 30/01/2005 và Trương Duy P2, sinh ngày 09/12/2008. Cháu P1 đã trưởng thành, giao cháu Trương Duy P2 cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, vì quyền và lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: hai bên khai không có nên không xét đến.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị P phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000428 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị P đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị P, anh C vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ