vanban.org

Bản án 50/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị S;

Chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Hữu Đ. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu Quốc T, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2012 và cháu Nguyễn Hữu Quốc K, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Giao chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K; Giao anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1994; * Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1982;"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị S;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 02 năm 2024
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC C XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Sỹ Danh Huệ

2. Ông Nguyễn Văn Thắng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 229/2023/TLST – HN&GĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/QĐ-HPT ngày 01 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1994; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 07 tháng 10 năm 2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Đăng ký hộ khẩu: xóm Núi, thôn 4, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: đội 5, thôn C, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1982; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 07 tháng 10 năm 2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm N, thôn 4, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội.

Chị S có mặt, anh Đ vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị S trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Đ có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 4 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21, Quyển số 01/2012. Sau khi cưới chúng tôi về sinh sống tại: xóm Núi, thôn 4, xã C, huyện Q. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Nay tôi xác định không còn tình cảm với anh Đ, tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: Tôi xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu Quốc T, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2012 và cháu Nguyễn Hữu Quốc K, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Sau ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu K. Anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T đến khi trưởng thành hoặc có quyết định thay đổi khác. Hai bên không phải đóng góp nuôi con chung cho nhau.

Tôi và anh Nguyễn Hữu Đ có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Tôi xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về các khoản vay nợ: Tôi xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Tôi đồng ý chịu án phí sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Tại bản tự khai và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cá và hoà giải, bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị S có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 4 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21, Quyển số 01/2012 ngày 28 tháng 4 năm 2012. Sau khi cưới chúng tôi về sinh sống tại: xóm Núi, thôn 4, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội. Tôi vẫn còn tình cảm với chị S nên muốn hòa giải để chúng tôi đoàn tụ với nhau.

- Về con chung: Tôi xác nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Hữu Quốc T, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2012 và cháu Nguyễn Hữu Quốc K, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Sau ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi 02 cháu T và cháu K. Không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung đối với tôi. Tôi và chị Nguyễn Thị S có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Tôi xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về các khoản vay nợ: Tôi xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Tôi đồng ý để chị S chịu án phí sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 liên tiếp không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.

Tại phiên toà hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28; Điều 58; 63; 70 và điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị S được ly hôn anh Đ; Về con chung: chị S, anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu Quốc T, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2012 và cháu Nguyễn Hữu Quốc K, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Giao chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K. Giao anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Về tài sản chung và nhà ở: nguyên đơn, bị đơn xác định tự thoả thuận; các khoản vay nợ nguyên đơn, bị đơn xác nhận không có nên không yêu cầu giải quyết. Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn, Tòa án đã tiến hành lấy ghi khai của đại diện gia đình nguyên đơn và đại diện chính quyền địa phương nơi bị đơn cư trú. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có mặt và bảo lưu toàn bộ lời khai tại bản tự khai, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 liên tiếp, vì vậy Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tòa án tiến hành giải quyết vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Hữu Đ là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị S và anh Đ đoàn tụ nhưng chị S kiên quyết xin ly hôn anh Đ, anh Đ không muốn ly hôn nhưng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Chị S xác định không còn tình cảm với anh Đ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị được ly hôn.

[3] Tòa án đã tiến hành ghi ý kiến của bà Nguyễn Thị Sáng, sinh năm 1966 là mẹ đẻ của chị S; nơi cư trú: đội 5, thôn C, xã V, huyện H. Qua trao đổi đại diện gia đình nguyên đơn cho biết: Về tình cảm: Con tôi là Nguyễn Thị S và con rể tôi là Nguyễn Hữu Đ có đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 4 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21, Quyển số 01/2012. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị S xin ly hôn, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho chị S được ly hôn với anh Đ để ổn định cuộc sống; Về con chung: Chị S, anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu Quốc T, sinh ngày 30/10/2012 và cháu Nguyễn Hữu Quốc K, sinh ngày 18/10/2014. Khi ly hôn đề nghị giao chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K, giao anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T là phù hợp với điều kiện của anh chị và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Về tài sản chung và nhà ở: Quan điểm của gia đình để hai anh chị tự thỏa thuận; Về khoản nợ: Gia đình chúng tôi xác nhận không vay nợ hai anh chị và hai anh chị cũng không vay nợ gì gia đình chúng tôi.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy: Về quan hệ hôn nhân chị S, anh Đ kết hôn hợp pháp trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Bị đơn là anh Nguyễn Hữu Đ đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng và đến Toà làm việc, anh Đ không muốn ly hôn chị S nhưng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị S và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử giải quyết cho chị S được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu Quốc T, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2012 và cháu Nguyễn Hữu Quốc K, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Khi ly hôn, chị S có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, còn cháu T giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời, tại bản tự khai ngày 16 tháng 01 năm 2024 của cháu T có nguyện vọng ở với mẹ, cháu K có nguyện vọng được ở cùng với bố. Xét đây là nguyện vọng của con chung phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

[6] Về tài sản chung (động sản và bất động sản): chị S, anh Đ xác nhận tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung và nhà ở bằng một vụ án khác khi chị S, anh Đ có yêu cầu.

Về khoản nợ: chị S, anh Đ xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm;

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ các căn cứ và nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81; Điều 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; khoản 4 Điều 147; Điều 203; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị S;

Chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Hữu Đ.

2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu Quốc T, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2012 và cháu Nguyễn Hữu Quốc K, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2014. Giao chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K; Giao anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T, kể từ tháng 3 năm 2024 đến khi các con chung đủ 18 hoặc có quyết định thay đổi khác. Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Hữu Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): chị S, anh Đ xác nhận tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Dành quyền khởi kiện về tài sản chung và nhà ở bằng một vụ án khác khi chị S, anh Đ có yêu cầu.

Về khoản nợ: chị S, anh Đ xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0019808 ngày 18 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ