vanban.org

Bản án 50/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị M. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị M đối với anh Phạm Quốc H. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Phạm Trần Hoàng K, sinh ngày 09/01/2019 là con chung của chị Trần Thị M và anh Phạm Quốc H; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị M ly hôn với Phạm Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-3-2024
V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đặng Hồng Phước;

2. Bà Mai Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 05/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/02/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1991 (có mặt);

Cư trú: Tổ A, ấp A, xã A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp. 2. Bị đơn: Anh Phạm Quốc H, sinh năm 1990 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:

Chị và ông Phạm Quốc H tự tìm hiểu và quyết định tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn số 11, ngày 06/02/2017 tại UBND xã A, C, An Giang.

Sau khi kết hôn, chị về chung sống với gia đình cha mẹ chồng được một thời gian ngắn. Đến đầu năm 2018, vợ chồng qua Campuchia làm việc sinh sống. Hôn nhân hạnh phúc êm ấm chỉ được một thời gian ngắn đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, anh H không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con, anh còn chơi game trên mạng. Chị có khuyên can nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Từ đó, vợ chồng thường hay cự cãi, dẫn đến tình cảm vợ chồng dần nhạt phai, không còn tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau nữa. Anh chị luôn bất hòa, gia đình không còn vui vẻ như trước. Cha mẹ hai bên có hàn gắn nhưng không được.

Từ tháng 12/2020, anh chị không còn chung sống với nhau nữa. Đến năm 2021 chị có quay lại sống chung với anh H, nhưng lại không hạnh phúc. Chị lên Thành phố Hồ Chí Minh để làm thuê (làm nail), chị và anh H ly thân nhau từ đó đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, một đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Quốc H.

- Về con chung: Có 01 đứa con chung, tên Phạm Trần Hoàng K, sinh ngày 09/01/2019. Hiện con đang sống với chị. Sau ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Phạm Quốc H: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh H đều vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị M.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án chấp nhận cho chị được ly hôn với anh H. Về con chung: yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh H: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị M, giải quyết cho chị M được ly hôn với anh Phạm Quốc H; về con chung: giao cháu Hoàng K cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh H không cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị M phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Trần Thị M và anh Phạm Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 02 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị M yêu cầu ly hôn với anh H. Anh H có hộ khẩu thường trú ở ấp P, xã B, huyện C, An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Phạm Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị M xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng ba năm, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh H.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị M và anh H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh H theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh H vắng mặt tại nhà. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh H đều vắng mặt, đồng thời không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn chị M đã trình bày, cũng như không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị M. Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2024 đối với bà Phan Thị B là mẹ ruột của anh H thể hiện: Hiện nay chị M và anh H đã ly thân, cha mẹ hai bên đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành, về quan hệ con chung phù hợp như lời trình bày của nguyên đơn. Bà B xác nhận phía anh H có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa, nhưng vì bận làm ở xa nên không đến Tòa tham dự được, theo bà B thì giữa chị M và anh H cũng không có khả năng đoàn tụ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị M và anh H đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị M là được ly hôn với anh Phạm Quốc H.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Trần Thị M thừa nhận giữa chị và anh Phạm Quốc H có 01 con chung tên Phạm Trần Hoàng K, sinh ngày 09/01/2019. Mặt khác, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận cháu Phạm Trần Hoàng K, sinh ngày 09/01/2019 là con chung của chị M và anh H. Hiện con đang sống với mẹ. Sau khi ly hôn, chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị M là giao cháu K cho chị được tiếp tục nuôi dưỡng.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Anh Phạm Quốc H có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Do chị Trần Thị M có yêu cầu ly hôn với anh Phạm Quốc H nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị M. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị M đối với anh Phạm Quốc H.

2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Phạm Trần Hoàng K, sinh ngày 09/01/2019 là con chung của chị Trần Thị M và anh Phạm Quốc H;

+ Tiếp tục giao cháu Phạm Trần Hoàng K, sinh ngày 09/01/2019 cho chị Trần Thị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu K đang sống chung với chị M); anh Phạm Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu;

+ Chị Trần Thị M cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004409 ngày 09/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang, được khấu trừ nên chị M đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Phạm Quốc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ