- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Thu H đối với bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V về hợp đồng góp hụi.
- Căn cứ chính? Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2024/DSST Ngày 27-5-2024 “V/v tranh chấp HĐ góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Nguyễn Hồng Phong
2. ông Võ Đức Huy
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2024/TLST- DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-DS ngày 19/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Võ Thị Thu H, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn:
1. Bà Lê Thị T, sinh năm: 1978
2. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1981.
Cùng địa chỉ: ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Lý Phương T1, sinh năm: 1972.
Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/01/2024, ngày 29/02/2024 và trong quá trình tố tụng của vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Thu H trình bày: bà H và bà Lê Thị T có quan hệ họ hàng, bà Lý Phương T1 trước đây là đại lý vé số, bà H lấy vé số của đại lý bà T1 bán nên quen biết nhau. Khi bà T1 tổ chức hụi có rủ bà H tham gia, do bà H có uy tín nên bà T1 mới cho tham gia hụi. Bà T và ông V muốn tham gia hụi bà T1 nhưng bà T1 không cho nên bà T và ông V nhờ bà H tham gia hụi dùm bà T và ông V. Khi tham gia hụi bà T1 không cho ghi tên bà T và ông V mà phải ghi tên bà H vì bà T1 chỉ biết bà H và gom hụi bà H chứ không biết bà T và ông V còn bà H chơi hụi dùm ai đó là chuyện của bà H. Hụi khui lần một bà T và ông V gửi tiền bà H đóng hụi, đến lần hai bà T và ông V kêu bà H bỏ phiêu hốt hụi, bà H cũng làm theo yêu cầu của bà T và ông V. Sau khi hốt hụi bà T1 giao hụi đầy đủ cho bà H, khi giao hụi bà T1 có viết giấy giao hụi cho bà H ký nhận và bà H xin bà T1 một bản chưa ký tên để bà H đưa cho bà T và ông V ký nhận. Bà T tên thường gọi ở nhà là Lê Thị G nên khi nhận tiền thì bà T ký nhận nhưng không ghi tên Lê Thị T mà ghi tên Lê Thị G. Bà H tham gia hụi dùm bà T một phần, hụi 10.000.000 đồng, hụi có 22 phần, hốt hụi ở kỳ thứ 2 với số tiền là 164.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà T và ông V đưa tiền cho bà H đóng hụi chết được hai lần thì ngưng. Bà H choàng hụi cho bà T đến kỳ thứ 12 thì bà H nộp đơn khởi kiện bà T và ông V với số tiền choàng hụi là 90.000.000 đồng, 40.000.000 đồng tiền vay, hụi 5.000.000 đồng bà H chơi dùm bà T và ông Vũ đ nhưng còn nợ 16.300.000 đồng và bà T làm chủ hụi dây hụi 3.000.000 đồng, bà H tham gia hai phần nhưng hụi ngưng bà T còn nợ bà H 82.140.000, tổng cộng bà T và ông V phải trả cho bà H là 228.440.000 đồng đã được Tòa án giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 29/2023/QĐST-DS ngày 26/4/3023. Hụi đã mãn, bà H đã choàng hụi cho bà T và ông V 10 kỳ với số tiền 100.000.000 đồng, nhiều lần bà H yêu cầu bà T và ông V trả tiền nợ hụi nhưng bà T và ông V cứ hứa hẹn mà không thực hiện. Nay bà H yêu cầu bà T và ông V trả tiền nợ choàng hụi là 100.000.000 đồng.
Bị đơn là bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần thông báo về phiên hòa giải nhưng ông V, bà T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà H và cũng không tham gia hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lý Phương T1 trình bày: bà T1 nghe bà H nói bà H chơi hụi dùm bà T và ông V; bà T và ông V chỉ đóng hụi chết được 2 lần thì ngưng không đóng hụi nữa. Hụi khui lần 2 thì bà H hốt hụi, bà T1 giao đủ hụi cho bà H, từ khi khui hụi đến khi mãn hụi bà T1 không có giao dịch với bà T và ông Vũ m việc hốt hụi và đóng hụi đều do bà H giao dịch với bà T1 còn việc nói bà T đóng hụi được hai lần thì ngưng là cũng do bà H kể với bà T1 chứ bà T1 không có nhận bất kỳ khoản tiền hụi nào của bà T. Hiện tại hụi đã mãn, bà H đóng hụi chết đầy đủ đến khi mãn hụi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật của thẩm phán xây dựng hồ sơ đúng trình tự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử trong quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa thể hiện khách quan. Về ý kiến giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: bà Võ Thị Thu H yêu cầu bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V trả tiền nợ choàng hụi, như vậy tranh chấp giữa bà H với bà T và ông V là tranh chấp hợp đồng góp hụi. Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm giao kết hợp đồng góp hụi, Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27-11-2006 của Chính phủ đang có hiệu lực thi hành nên được áp dụng để giải quyết tranh chấp.
Bị đơn là bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V đã được thông báo việc mở phiên tòa đến lần thứ hai nhưng v ng mặt không lý do nên Tòa án xét xử v ng mặt bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
yêu cầu khởi kiện của bà H thấy rằng: bà H đứng tên tham gia dùm bà T và ông V nhưng sau khi hốt hụi bà T và ông V không đóng hụi chết nên bà H phải choàng hụi.
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 29/2023/QĐST-DS ngày 26/4/3023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đã buộc bà T và ông V trả cho bà H số tiền hụi mà bà H đã choàng là 09 kỳ. Nay bà H tiếp tục khởi kiện yêu cầu bà T và ông V trả số tiền choàng hụi của 10 kỳ còn lại.
Do đó bà H khởi kiện yêu cầu bà T và ông V trả cho bà H toàn bộ số tiền choàng hụi là 100.000.000đ là phù hợp nên được chấp nhận.
3 Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì yêu cầu của bà H được chấp nhận nên bà T và ông V phải chịu toàn bộ tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 14, Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27-11-2006 của Chính phủ.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Thu H đối với bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V về hợp đồng góp hụi.
Buộc bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V phải liên đới trả cho bà Võ Thị Thu H 100.000.000 đồng tiền hụi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V phải liên đới chịu 5.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Võ Thị Thu H không phải chịu án phí, hoàn trả cho Võ Thị Thu H 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008215 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
3. Án này xử sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 27 tháng 5 năm 2024. Bị đơn, người liên quan v ng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ,án văn. | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Lưu Thủy |