- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chồng người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Điểu Đ phạm Tội chống người thi hành công vụ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/HS-ST Ngày 09-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Đường
Bà Vũ Thị Lựu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Điểu Đ, sinh năm 1994 tại Bình Phước; Nơi cư trú: Thôn S 2, xã V, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn) Không biết chữ; Dân tộc: S’tiêng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Điểu S1, sinh năm 1936 và bà Thị D, sinh năm 1937; Có vợ Thị L, sinh năm 1987 và 04 người con (lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/7/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 01 tháng 02 ngày tù về tội cướp tài sản theo Bản án số 81/2012/HSPT (đã được xoá án tích); Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2023 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ghi Khâm – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Phước. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Hùng A, công tác tại: Đội CSGT Công an thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
Anh Điểu X, sinh năm 1992, trú tại: Thôn S 2, xã V, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
Anh Điểu V1, sinh năm 1995, trú tại: Thôn S 2, xã V, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
Anh Phạm Văn Vũ T, công tác tại: Đội CSGT Công an thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
Anh Điểu M, công tác tại: Công an phường Sơn Giang, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 11/4/2023 Điểu Đ mượn xe mô tô Exciter 150 biển kiểm soát 93H1 – 281.29 của Điểu X chở Điểu V1 đi từ thôn S 2, xã V, huyện Bù Gia Mập đến quảng trường 6-1 thuộc Trung tâm hành chính thị xã Phước Long tìm bạn nhưng không gặp nên Đ chở V1 quay về lại xã V, huyện Bù Gia Mập. Khi điều khiển xe lưu thông đến đoạn đường Nguyễn Tất Thành (đường ĐT 741 cũ) thuộc khu phố Bình Giang 1, phường Sơn Giang, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước thì Đ thấy chốt kiểm tra của lực lượng cảnh sát giao thông Công an thị xã Phước Long nhưng do trước đó Đ đã uống bia nên quay đầu xe, chạy ngược chiều đường bỏ chạy, lúc này đồng chí T là cán bộ CSGT dùng bộ đàm thông báo cho đồng chí Hùng Anh – cán bộ CSGT và đồng chí M – Công an phường Sơn Giang đứng đón lõng cách chốt khoảng 100m chặn xe mô tô của bị cáo. Nhận được thông báo, 02 đồng chí Hùng A và M đi từ lề đường ra đến giữa đường, đồng chí M dùng gậy có đèn nhấp nháy ra hiệu lệnh dừng xe nhưng Đ không chấp hành mà tăng ga tông vào đồng chí Hùng A làm đồng chí bị hất văng ngã xuống đường, Đ và V1 cùng xe mô tô cũng ngã xuống đường. Sau va chạm, đồng chí Hùng A bị thương ở chân và tay, được đưa đến Trung tâm y tế thị xã Phước Long kiểm tra, Đ và V1 bị thương nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng. Cùng lúc đó, lực lượng CSGT và Công an phường Sơn Giang khống chế Đ, tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, kết quả 0,518mg/L khí thở và đưa về trụ sở Công an phường Sơn Giang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ về hành vi chống người thi hành công vụ, bàn giao Đ và vật chứng thu giữ là 01 xe mô tô Exciter 150 biển số 93H1 – 281.29 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phước Long để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/4/2023, Điểu Đ bị khởi tố bị can để điều tra.
Bản cáo trạng số 48/CTr-VKS ngày 26/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố Điểu Đ về Tội chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đ về Tội chống người thi hành công vụ; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người đồng bào, không biết chữ nên nhận thức còn thấp.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo Đ phạm Tội chống người thi hành công vụ và xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, trách nhiệm dân sự và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, là người đồng bào, không biết chữ, không nhận thức được hết tính chất hành vi mình đã thực hiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, nuôi cha già và con nhỏ. Từ đó, tuyên bị cáo mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bị cáo tự bào chữa: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thống nhất với phần bào chữa của người bào chữa, không bổ sung gì thêm.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phước Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai, ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Đ khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/4/2023, tại đường Nguyễn Tất Thành thuộc khu phố Bình Giang 1, phường Sơn Giang, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước, bị cáo Đ đã có hành vi tăng ga xe mô tô đang điều khiển tông vào đồng chí Hùng A là cán bộ cảnh sát giao thông đang thực hiện nhiệm vụ nhằm trốn chạy khi có hiệu lệnh dừng xe của lực lượng cảnh sát giao thông. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng vũ lực tấn công vào người đang thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ, công vụ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước về quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ, nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương, làm giảm hiệu lực quản lý của cơ quan Nhà nước. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Đ có hành vi cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội chống người thi hành công vụ. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; không có tiền án, tiền sự; nhưng nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 01 tháng 02 ngày tù về tội cướp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội mà tiếp tục phạm tội, tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng tính chất hành vi phạm tội là rất nguy hiểm, không chỉ xâm phạm đến hoạt động quản lý bình thường của cơ quan Nhà nước mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội là cần thiết.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi cha già và các con nhỏ, là người đồng bào sinh sống tại vùng có kinh tế khó khăn, không biết chữ nên nhận thức của bị cáo thấp, bị cáo không nhận thức hết được tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, sẽ được xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Vật chứng vụ án:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phước Long đã trả xe mô tô Exciter 150 iển số 93H1 – 281.29 cho chủ sở hữu Điểu X là phù hợp, đúng quy định.
Đối với hành vi gây thương tích cho đồng chí Nguyễn Hùng A, đồng chí A không yêu cầu xem xét giải quyết và yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về mức hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng chủ yếu được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 nên bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Điểu Đ phạm Tội chống người thi hành công vụ.
Xử phạt bị cáo Điểu Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (09/8/2023).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc ñieàu 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï”.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã Phước Long; - CQ CSĐT Công an Tx. Phước Long; - Chi cục THADS thị xã Phước Long; - Bị cáo, NLQ; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Bích Vân |