- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phi C + 01 Bị cáo - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Phi C và Y L phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/HSST Ngày 24/02/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kam Ênuôl
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Khương.
2. Bà Lê Thị Thanh Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2023/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: LÊ PHI C; Tên gọi khác: C sọ não. Sinh ngày: 20 tháng 8 năm 1983; Tại: Tỉnh Đắk Lắk. Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn 11, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp Không; trình độ học vấn: 03/12. Con ông: Lê Văn T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H (sinh năm 1953). Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không;
Tiền án: 02.
- Ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Tại bản án số 297/HSST). Ngày 23/11/2020, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam Đắk Tân, Bộ Công an. (chưa được xóa án tích)
- Ngày 26/10/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Tại bản án số 324/2021/HSST). Ngày 12/4/2022, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam Đắk Tân, Bộ Công an. (chưa được xóa án tích)
Nhân thân:
- Ngày 15/01/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Tại bản án số 05/HSPT). Ngày 08/02/2002, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk.
- Ngày 06/5/2010, bị Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định Xử lý vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (Tại Quyết định số 26543).
- Ngày 30/7/2010, bị Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng (Tại Quyết định số 2265). Ngày 03/4/2012, chấp hành xong tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đắk Lắk.
- Ngày 24/5/2018, bị Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số tiền 150.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (Tại Quyết định số 2259).
Bi cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2022, hiện đang giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột – Có mặt.
2. Họ và tên: Y L; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 01 tháng 01 năm 1994; Tại: Tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: B, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ê đê; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp Không; Trình độ học vấn: 06/12. Con ông Y N (đã chết) và con bà H’L, sinh năm 1964. Tiền sự: Không;
Tiền án: 02.
- Ngày 07/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xét xử, tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Tại bản án số 194/2018/HSST). Ngày 09/4/2019, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam Đắk Tân, Bộ Công an. (chưa được xóa án tích)
- Ngày 02/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Tại bản án số 168/2020/HSST). Ngày 03/7/2021, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam Đắk Tân, Bộ Công an. (chưa được xóa án tích)
Bi cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2022, hiện đang giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột – Có mặt.
Người bị hại:
1. Ông Phạm Văn H, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1984. Địa chỉ: 9/24 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
2. Bà Trần Kim A, sinh năm: 1964. Địa chỉ: Tổ dân phố 8, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
Người chứng kiến: Bà Võ Thị L, sinh năm: 1956. Địa chỉ: Liên gia 4, tổ dân phố 8, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Phi C, sinh năm 1983 và Y L, sinh năm 1994, đều là người nghiện ma túy và đã có tiền án chưa được xóa án tích, về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Trong khoảng thời gian từ ngày 16/9/2022 đến ngày 04/10/2022, C và Y L cùng nhau thực hiện cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, cụ thể:
Vụ thứ nhất: khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 16/9/2022, Lê Phi C điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 47H3 – 4520 chở Y L đi trên đường Y L thuộc phường T, thành phố B, C và Y L nhìn thấy phía trước cùng chiều có ông Phạm Văn H, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố 6, phường T, thành phố B, đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu xanh, biển số 53S6 – 4977 đi một mình. Do đoạn đường này vắng người qua lại nên Y L nói với C “Chặn ông kia lại, để giả vờ mượn diện thoại gọi cho người nhà nói bị tai nạn rồi giật luôn”, thì C đồng ý nói “Ờ, để anh”. Sau đó, C tăng ga xe vượt lên chặn trước đầu xe của ông H lại ngay ngã tư đường Y L và đường phía trước Quỹ tín dụng nhân dân phường T. Y L bước xuống xe rồi giả vờ hỏi ông Hùng “Chú ơi, người nhà con tai nạn, chú cho con mượn điện thoại gọi cho người nhà”, ông H lấy trong người ra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu trắng, rồi nói Y L đọc số để ông H gọi giúp, khi ông H vừa nói xong thì Y L nhanh chóng dùng tay giật lấy chiếc điện thoại của ông H rồi ngồi lên xe mô tô của C đang nổ máy đợi sẵn. Cả hai điều khiển xe tẩu thoát theo đường đất hướng về xã H, thành phố B rồi đi ra đường A, phường T, khi đi trên đường A, C và Y L bán điện thoại cướp giật được của ông H cho một người phụ nữ khoảng 30 tuổi (chưa xác định được lai lịch), là người đi đường với số tiền 500.000 đồng. Số tiền trên, C và Y L đã mua chất ma tuý sử dụng chung và tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 06 giờ ngày 04/10/2022, Y L điều khiển xe mô tô biển số 47H3 – 4520 chở bị can Cường đi đến trước chợ T thuộc tổ dân phố 8, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Y L nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 47B2-694.68 của bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có để 01 túi nylong màu trắng bên trong có thịt nên Y L nói với C “có bịch thịt heo kìa anh C”, C hiểu ý của Y L là lấy trộm túi đựng thịt nên nói “Từ, từ, dừng ở đây để anh vô”. Sau đó, Y L dừng xe cách xe chị T khoảng 03m, còn C đi bộ đến lén lút trộm cắp bịch thịt treo trên xe của bà T. Lúc này, bà T đang quay lại xe thì thấy C vừa trộm cắp bịch thịt của bà T nên bà T chạy đến túm vào áo khoác của C đang mặc trên người kéo lại đồng thời truy hô. Lúc này, C bỏ chạy được lên xe của Y L đang nổ máy chờ sẵn thì bà T tiếp tục cầm tay nắm vào đuôi xe kéo lại và bị kéo lê trên đường khoảng 05m thì buông tay ra. C và Y L điều khiển xe tẩu thoát đi đến ngã 3 H, trên đường N, thành phố B, thì dừng lại. Tại đây, C nói Y L ngồi đợi để C đi bán số thịt trộm cắp được thì Y L đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe mô tô biển số 47H3 – 4520 mang bịch thịt trộm cắp được đến khu vực chợ ở đường V, thuộc phường T, thành phố B và bán cho một người phụ nữ (Chưa xác định lai lịch) với số tiền 360.000 đồng. Số tiền trên cả hai đã mua chất ma túy sử dụng chung và tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 184/KL-HĐĐGTS, ngày 10/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu trắng, màn hình bị nứt, tài sản đã qua sử dụng (tài sản chưa thu hồi được), thời điểm định giá ngày 16/9/2022 trị giá 600.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 186/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 0,3Kg thịt bò trị giá 66.000 đồng; 01Kg thịt nạc lợn trị giá 100.000 đồng; 3,6 Kg thịt nọng lợn trị giá 216.000 đồng; 2,2kg thịt lợn xay trị giá 198.000 đồng; 0,4Kg thịt xương ống lợn trị giá 34.000 đồng; 02Kg thịt ức gà trị giá 100.000 đồng, đều là tài sản chưa qua sử dụng và chưa thu hồi được. Tổng trị giá tài sản là 714.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Lê Phi C và Y L về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự và tội “trộm cắp tài sản” điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra, cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2023, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lê Phi Cư và Y L phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Phi C từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Phi C từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 33 tháng đến 42 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Y L từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Y L từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 33 tháng đến 42 tháng tù.
* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Buộc các bị cáo Lê Phi C và Y L phải liên đới bồi thường cho ông Phạm Văn H tổng số tiền 600.000 đồng là giá trị của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu trắng mà các bị cáo đã cướp giật của ông Phạm Văn H (Cụ thể: Bị cáo Lê Phi C bồi thường 300.000 đồng, bị cáo Y L bồi thường 300.000 đồng).
+ Buộc các bị cáo Lê Phi C và Y L phải liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc T tổng số tiền 714.000 đồng là giá trị bịch thịt mà các bị cáo đã đã trộm cắp của bà Nguyễn Thị Ngọc T (Cụ thể: Bị cáo Lê Phi C bồi thường 357.000 đồng, bị cáo Y L bồi thường 357.000 đồng).
- Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu trắng mà các bị can cướp giật được vào ngày 16/9/2022, các bị can khai đã bán cho 01 người phụ nữ (Chưa xác định lai lịch) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc điện thoại để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
+ Đối với 01 bịch nylon bên trong có 0,3Kg thịt bò; 01Kg thịt nạc lợn; 2,2kg thịt lợn xay; 0,4Kg xương ống lợn, 02 Kg thịt ức gà mà các bị can trộm cắp được vào ngày 04/10/2022, bị can Cường khai đã bán cho 01 người phụ nữ (Chưa xác định lai lịch) tại khu vực chợ đường V, thành phố B nên Cơ quan điều tra không thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm, các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 16/9/2022 trên đường Y L thuộc phường T, thành phố B, Y L đã cướp giật tài sản của ông Phạm Văn H là một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J7 Pro, trị giá 600.000 đồng, Lê Phi C điều khiển xe mô tô biển số 47H3-4520 chở Y L tẩu thoát. Đến khoảng 06 giờ ngày 04/10/2022 tại chợ T thuộc tổ dân phố 8, phường T, thành phố B, Lê Phi C trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc T, là 01 túi nylon bên trong có chứa nhiều loại thịt, trị giá 714.000 đồng, sau đó Y L điều khiển xe mô tô biển số 47H3-4520 chở Cường tẩu thoát.
Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.
. Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, chứng minh đầy đủ các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, như vậy quyết định truy tố bị cáo Lê Phi C và Y L về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Phi C phạm tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…”
Điều 173 Bộ Luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 vào 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;…”
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác trái pháp luật, đồng thời còn gây mất ổn định trị an xã hội. Các bị cáo nhận thức được rằng, quyền sở hữu tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, luôn luôn được Nhà nước bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị pháp luật nghiêm trị. Song, do động cơ vụ lợi cá nhân, các bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút để trộm cắp tài sản của bị hại để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, đối với các bị cáo là người có tiền án và nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội xâm phạm quyền sở hữu, các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để rèn luyện bản thân, mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, đối với các bị cáo cần có mức án đủ nghiêm và buộc cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ tính chất giáo dục và răn đe đối với bị cáo. Xét hành vi tính chất phạm tội của các bị cáo là như nhau, thuộc trường hợp phạm tội tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cần có mức hình phạt tương xứng do hành vi của mình gây ra.
Đối với đối tượng chưa rõ lai lịch đã bán ma túy cho Lê Phi C và Y L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã thực hiện các biện pháp xác định nhân thân lai lịch, tuy nhiên đến nay vẫn chưa xác định được, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng trên là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Phi C và Y L Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tài sản do các bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng cần áp dụng trong khi lượng hình. Riêng đối với bị cáo Y L khi phạm tội bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên đây là các tình tiết mà các bị cáo được hưởng đề giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
. Về các biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự:
+ Ông Phạm Văn H yêu cầu Lê Phi C và Y L phải bồi thường số tiền 600.000 đồng tương đương giá trị của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu trắng mà C và Y L đã cướp giật của ông H.
+ Bà Nguyễn Thị Ngọc T yêu cầu Lê Phi C và Y L phải bồi thường số tiền 714.000 đồng tương đương giá trị của bịch thịt mà C và Y L đã trộm cắp của chị T.
Xét thấy đây là thiệt hại thực tế mà những người bị hại phải chịu nên các bị cáo phải liên đới bồi thường cho những người bị hại.
- Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu trắng mà các bị cáo cướp giật được vào ngày 16/9/2022, các bị cáo khai đã bán cho 01 người phụ nữ (Chưa xác định lai lịch) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc điện thoại để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
+ Đối với 01 bịch nylon bên trong có 0,3Kg thịt bò; 01Kg thịt nạc lợn; 2,2kg thịt lợn xay; 0,4Kg xương ống lợn, 02 Kg thịt ức gà mà các bị cáo trộm cắp được vào ngày 04/10/2022, bị cáo C khai đã bán cho 01 người phụ nữ (Chưa xác định lai lịch) tại khu vực chợ đường V, thành phố B nên Cơ quan điều tra không thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Phi C và Y L phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 171 điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Phi C 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/10/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 171 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Y L 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày 14/10/2022.
* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Buộc các bị cáo Lê Phi C và Y L phải liên đới bồi thường cho ông Phạm Văn H tổng số tiền 600.000 đồng là giá trị của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu trắng mà các bị cáo đã cướp giật của ông Phạm Văn H (Cụ thể: Bị cáo Lê Phi C bồi thường 300.000 đồng, bị cáo Y L bồi thường 300.000 đồng).
+ Buộc các bị cáo Lê Phi C và Y L phải liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc T tổng số tiền 714.000 đồng là giá trị bịch thịt mà các bị cáo đã đã trộm cắp của bà Nguyễn Thị Ngọc T (Cụ thể: Bị cáo Lê Phi C bồi thường 357.000 đồng, bị cáo Y L bồi thường 357.000 đồng).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Phi C và Y L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Chi cục THA DS Tp. Buôn Ma Thuột; - Chánh án TAND Tp. Buôn Ma Thuột; - Bị cáo; - Bị hại; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Y Kam Ênuôl |