vanban.org

Bản án 50/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức xuất nhập cảnh trái phép - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 50/2023/HSST
Ngày 14 tháng 7 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ-TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hoàng Nghiệp

Ông Phan Phước Tân

Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 41/2023/HSST ngày16/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm: 1989; nơi sinh: tỉnh An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khóm Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Sửa máy; Cha: Nguyễn Văn Đực, sinh năm 1959; Mẹ: Trương Thị Liễm, sinh năm 1957. Anh, em ruột có 10 người, bị cáo là người thứ bảy.

Tiền án: Ngày 29/10/2021, bị Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tuyên phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Ngày 01/9/2022, H chấp hành xong án phạt tù.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang.

Những người tham gia phiên tòa:

- Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1989; nơi sinh: thỉnh An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khóm Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang; (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Văn Nam, sinh năm: 1987; Địa chỉ: Tổ 6, khu phố Văn Tâm, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. (vắng)

2. Ông Nguyễn Duy Thanh, sinh năm: 1987; Địa chỉ: khóm Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

3. Ông Phạm Văn Trường, sinh năm: 1993; Địa chỉ: tổ 10 khóm Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

4. Ông Võ Văn Đức, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Ấp Sa Tô, xã Khánh Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

5. Trần Thanh Phương, sinh năm 1966; Địa chỉ: khóm Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/12/2022, khi đi làm việc tại huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Phạm Văn Nam quen biết với Phương (không rõ họ, địa chỉ), được Phương cho biết đang làm việc ở Campuchia nên Nam nhờ Phương đưa Nam sang Campuchia làm việc chung, hai bên thỏa thuận chi phí sang Campuchia là 10.000.000 đồng do Phương chi trả, khi Nam sang được Campuchia sẽ tính sau. Sau đó, Phương sử dụng mạng xã hội Zalo hướng dẫn Nam đến Bến xe Châu Đốc, sẽ có người đón Nam đưa sang Campuchia gặp Phương. Khoảng 06 giờ ngày 15/12/2022, Nam từ nhà chị ruột (Phạm Thị Niên) tại Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đi xe khách đến thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Trên đường đi, Nam nH được cuộc gọi điện thoại di động của người nam giới thiệu “Tôi là H, anh Phương kêu đón” và dặn đến Bến xe Châu Đốc sẽ có người đón, đưa về nhà nghỉ đợi. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, tiếp tục có số điện thoại khác gọi đến nói “khi nào đến Bến xe thì gọi cho Trường để đón”. Khi đến Bến xe Châu Đốc, Nam gọi lại số điện thoại vừa liên lạc thì sau đó có một người nam (sau này biết tên là Trường) điều khiển xe ô tô hiệu VIOS màu trắng đến đón Nam đưa về nhà nghỉ. Trên đường đi, khi đến quán cà phê Gia Mỹ thì Nam kêu Trường dừng xe để ghé vào uống nước. Cùng lúc này, H điện thoại hỏi Nam đang ở đâu và một lúc sau H chạy xe mô tô biển kiểm soát 67G1-440.80 đến quán gặp Nam bàn bạc việc đưa Nam sang Campuchia. Sau đó, Trường thuê người nam chạy xe mô tô khách đến chở Nam đưa về nhà trọ Thanh Phương. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô đến nhà trọ Thanh Phương gặp Nam lấy hành lý của Nam đem đến bến sông nhà của H tại khóm Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú trước, rồi điện thoại hướng dẫn cho Nam đi bộ từ nhà trọ Thanh Phương đến khu vực bến sông nhà H, sau đó H sử dụng vỏ lãi, chở Nam đưa sang bờ Campuchia giao Nam cho một người đàn ông không rõ lai lịch đang chờ sẵn để đưa Nam đi gặp Phương. Sau đó, Phương đưa Nam đến ở một khách sạn, tại đây Nam bị Phương, Hoàng Minh Nam, Lê Văn Vĩnh và Lợi (chưa rõ họ, địa chỉ) bắt trói, sử dụng điện thoại của Nam quay clip cảnh đánh Nam rồi gọi video call qua mạng xã hội zalo cho Phạm Thị Niên và Phạm Văn Bằng (chị, em ruột của Nam) và gửi đoạn clip, yêu cầu Niên và Bằng chuyển tiền để chuộc Nam nhưng Niên, Bằng không có tiền chuộc.

Quá trình điều tra vụ án, xác định: Khoảng 09 giờ 15/12/2022, Nguyễn Văn H được người tên Xe (không rõ lai lịch, đang ở Campuchia) dùng số điện thoại 00855715853333 gọi vào số điện thoại 0834695810 của H thỏa thuận thuê H đưa Nam sang Campuchia sẽ trả tiền công cho H là 300.000 đồng, các chi phí đưa Nam sang Campuchia khác thì Xe chi trả, thì H đồng ý. Sau đó, Xe gửi số điện thoại của Nam (0967613862) cho H để H liên lạc đón Nam. H sử dụng số điện thoại 0834695810 gọi cho Nam, hướng dẫn Nam cách thức đi đến thành phố Châu Đốc. Sau đó, H thuê xe taxi của Nguyễn Duy Thanh đến Bến xe Châu Đốc đón chở Nam về nhà trọ Thanh Phương (thị trấn Long Bình, huyện An Phú) với giá 500.000 đồng, H gửi số điện thoại của Nam cho Thanh để liên lạc. Do Thanh bận việc nên giới thiệu cho Trương Văn Trường chở Nam. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Trường điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 67A-216.11 đến Bến xe Châu Đốc chở Nam về khu vực cửa khẩu Long Bình thì Nam yêu cầu Trường ghé quán cà phê Gia Mỹ để uống nước. Cùng lúc, H liên lạc gặp Nam và tổ chức đưa Nam xuất cảnh trái phép sang Campuchia như nội dung vụ án đã nêu. Đến khoảng 08 giờ ngày 16/12/2022, H gọi điện thoại cho Xe yêu cầu trả tiền thuê xe là 500.000 đồng và tiền công đưa Nam sang Campuchia 300.000 đồng, tổng cộng 800.000 đồng nhưng Xe nói: Nam đã bị bắt cóc, không liên lạc được nên Xe chưa trả tiền cho H.

Khoảng 01 giờ ngày 17/12/2022, lợi dụng lúc Phương đi khỏi khách sạn, Nam được Vĩnh và Hoàng Minh Nam cởi trói và cùng bơi qua sông Bình Di, nhập cảnh trái phép từ Campuchia vào Việt Nam. Sau đó, Phạm Văn Nam đến Công an xã Quốc Thái, huyện An Phú tố giác hành vi Phương, Lợi, Lê Văn Vĩnh, Hoàng Minh Nam và Nguyễn Văn H, đồng thời khai nH hành vi xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Campuchia.

Ngày 21/12/2022, H đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang đầu thú, khai nH hành vi đưa Nam xuất cảnh trái phép sang Campuchia vào ngày 15/12/2022.

Vật chứng vụ án: 01 (Một) Điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7 có gắn sim số 0383400461; 01 (Một) Vỏ lãi; 01 (Một) Máy nổ; 01 (Một) xe Honda hiệu Future Neo biển số 67G1-440.80;- 01 (Một) mũ bảo hiểm, màu xám; 01 (Một) áo thun; 02 (Hai) quần thun.

Ngày 21/12/2022, Nguyễn Văn H đầu thú. Ngày 29/12/2022, Nguyễn Văn H bị khởi tố để điều tra xử lý.

Tại Bản Cáo trạng số 67/CT-VKSAG-P1 ngày 15/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nH hành vi như nội dung cáo trạng đã nêu. Tuy nhiên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày phù hợp nội dung và các tài liệu chứng cứ có trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Đối với Nguyễn Văn H đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 6 tháng tù giam về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: do bị cáo H chưa nH được tiền thu lợi bất chính nên đề nghị không áp dụng trách nhiệm dân sự đối với bị cáo H.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu bán hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 (Một) Điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7 có gắn sim số 0383400461; 01 (Một) Vỏ lãi; 01 (Một) Máy nổ của bị cáo H.

Trả lại cho Nguyễn Thị Thắm Nhỏ: 01 (một) Xe mô tô hiệu Future Neo, biển kiểm soát 67G1-440.80

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo thun; 02 (Hai) quần thun không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo tranh luận cho rằng mình không phạm tội, chỉ thỏa thuận chở Nam đến cửa khẩu Long Bình sau đó Nam qua biên giới bị cáo không biết. Bị cáo chỉ thừa nH chiếc điện thoại của bị cáo liên lạc với các đối tượng đưa Nam sang campuchia nên tịch thu điện thoại còn lại đề nghị trả lại bị cáo.

Trong lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét tình tiết của bị cáo, bị cáo không chở Nam sang Campuchia,

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH thấy như sau:

[1] Về thủ tục:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, quá trình tố tụng bị cáo H không có khiếu nại.

Tại phiên tòa, bị cáo có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cho rằng đánh bị cáo, nhưng không đủ căn cứ. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Xét, những người tham gia tố tụng vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét về tính chất vụ án:

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính nói chung, lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh nói riêng; vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh qua biên giới Campuchia để lao động trái phép và công tác phòng chống dịch covid tại thời điểm tháng 4/2022.

Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe, đủ khả năng nH thức và điều khiển hành vi. Lẽ ra bị cáo phải tìm việc làm hợp pháp để tạo ra của cải lo cho bản thân và gia đình nhưng do muốn có tiền tiêu xài nhanh mà bị cáo thực hiện hành vi Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp. Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm, tương xứng với từng hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Nội dung tranh luận

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn H đầu thú, khai nH hành vi phạm tội như nội dung vụ án. Tuy nhiên, sau khi bị khởi tố điều tra thì H chỉ thừa nH được đối tượng Xe (chưa rõ họ tên, sinh sống tại Campuchia) thuê đưa Nam sang Campuchia nhưng khi đến quán cà phê Gia Mỹ, biết Nam không có Hộ chiếu (PASSPORT) nên không đồng ý đưa đi. Sau đó, được đối tượng Dũng Cá (chưa rõ họ tên, sinh sống tại Campuchia) điện thoại kêu đến nhà trọ Thanh Phương lấy ba lô đưa sang Campuchia nH tiền công. Không thừa nH việc đưa Nam từ bờ Việt Nam sang Campuchia. Nhưng căn cứ vào lời khai của Phạm Văn Nam, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì lời khai nại của H không có căn cứ mà chỉ nhằm trốn tránh trách nhiệm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nH hành vi trực tiếp đưa người xuất cảnh trái phép, tuy nhiên, lời không thừa nH của bị cáo không phù hợp với những lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, không phù hợp với trích xuất dữ liệu điện tử từ điện thoại, camera. Việc không thừa nH hành vi phạm tội của bị cáo là không có cơ sở pháp lý, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án.

Về vật chứng người liên quan đã mô tả đúng hơn 90 % phương tiện để bị cáo chở Nam qua sông sang Campuchia, nhưng bị cáo cho rằng khác một số màu như đen, đỏ thành cam... là bị cáo đã chi tiết hóa vật mô tả, không phù hợp với thực tế khách quan mà Nam khai. Camera nhà trọ Thanh Phương đã ghi nH bị cáo đến lấy ba lô Nam, ba lô để cách Nam chưa tới 0,5m và nói chỉ đem ba lô chở qua Campuchia theo yêu cầu của Xe là hoàn toàn không đúng với sự thật của vụ án, sau khi lấy ba lo thì Nam cũng đi bộ và đi theo bị cáo xuống bến sông, phải có sự hướng dẫn thì Nam mới biết đường đi và hiện trường Nam trình bày là hoàn toàn phù hợp với tình tiết và chứng cứ khác có trong vụ án.

Việc bị cáo khai trong lúc tự thú bị đánh, sau đó lại nói bị ném chai nước suối, tuy nhiên quá trình lấy lời khai bị cáo có ghi hình và có đại diện Viện kiểm sát tham dự nhưng bị cáo không khiếu nại, bản thân bị cáo cũng biết đọc, biết viết nhưng lại đồng ý ký vào biên bản còn ghi thêm nội dung đã đọc lại chứng tỏ bị cáo không bị ép cung, nhục hình như lời khai tại tòa, bị cáo cũng không có thương tích liên quan đến việc bị nhục hình, do dó, không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Từ những lời khai và chứng cứ nêu trên đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn H có hành vi tổ chức cho Phạm Văn Nam xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Campuchia để thu lợi. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, thỏa mãn dấu hiệu về mặt khách quan của tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên cho thấy Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét về nhân thân:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã không thành khẩn khai báo, không tỏ thái độ ăn năn hối cải; do đó, không áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 29/10/2021, bị Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tuyên phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Ngày 01/9/2022, H chấp hành xong án phạt tù. Nên trong lần phạm tội này, bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo H chưa nH được tiền thu lợi bất chính nên xét không áp dụng trách nhiệm dân sự đối với bị cáo H.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu bán hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 (Một) Điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7 có gắn sim số 0383400461; 01 (Một) Vỏ lãi; 01 (Một) Máy nổ;

Trả lại cho Nguyễn Thị Thắm Nhỏ: 01 (một) Xe mô tô hiệu Future Neo, biển kiểm soát 67G1-440.80

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo thun; 02 (Hai) quần thun không còn giá trị sử dụng.

[7] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, bị cáo còn có thể bị phạt tiền nhưng xét bị cáo hiện đang có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm của những người liên quan:

Người tên Phương, người đàn ông nH Nam tại Campuchia, Xe (không rõ họ tên, địa chỉ), hiện sinh sống ở Campuchia nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh xử lý sau.

Nguyễn Duy Thanh, Trương Văn Trường, Võ Văn Đức là người hành nghề lái xe dịch vụ, chạy xe mô tô chở khách... là những người được H thuê Nam từ thành phố Châu Đốc đến quán cà phê Gia Mỹ, nhà trọ Thanh Phương. Nhưng không biết việc H tổ chức cho Nam xuất cảnh trái phép sang Campuchia nên Cơ quan An ninh điều tra không xử lý là có căn cứ.

Hoàng Minh Nam, Lê Văn Vĩnh có hành vi nhập cảnh trái phép từ Campuchia vào Việt Nam ngày 17/12/2022 đã bị Công an huyện An Phú ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh”. Riêng đối với việc Phạm Văn Nam tố giác Hoàng Minh Nam, Lê Văn Vĩnh cùng với Phương, Lợi có hành vi tổ chức bắt cóc, tống tiền và giam giữ người trái pháp luật xảy ra trên lãnh thổ Campuchia, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Phạm Văn Nam có hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh”, tuy nhiên do Nam chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang có văn bản đề nghị Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh An Giang ra quyết xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn Nam theo quy định.

[8] Kiến nghị: Cần có biện pháp giáo dục pháp luật về vi phạm trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh cho bà con nhân dân khu vực biên giới, hành vi đưa người qua biên giới là vi phạm pháp luật hình sự.

[9] Về quyền kháng cáo và án phí:

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2022.

Căn cứ vào các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu bán hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 (Một) Điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7 có gắn sim số 0383400461; 01 (Một) Vỏ lãi; 01 (Một) Máy nổ;

Trả lại cho Nguyễn Thị Thắm Nhỏ: 01 (một) Xe mô tô hiệu Future Neo, biển kiểm soát 67G1-440.80

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo thun; 02 (Hai) quần thun không còn giá trị sử dụng; 01 (Một) mũ bảo hiểm, màu xám.

(Hiện trạng vật chứng như biên bản giao nH vật chứng ngày 16/6/2023 giữa Cơ quan An ninh điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

Căn cứ Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/7/2023), bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nH tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nH:

Cỡ chữ