- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phạm hoàng D phạm Tội "Chống người thi hành công vụ" - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Phạm Hoàng D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _______________________ Bản án số: 50/2023/HS-ST Ngày 26 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Phượng
Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Việt Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/HSS, ngày 07 tháng 3 năm 2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HS ngày 03/4/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Phạm Hoàng D. Tên gọi khác: Không, sinh năm 20xx tại Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Phố PQ, phường QT, thành phố TH, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Minh H và bà: Phạm Thị Tố N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại: Ông Trịnh Đức C, sinh năm 19xx
Nơi làm việc: Đội cảnh sát giao thông trật tự - Công an thành phố NB, tỉnh
Ninh Bình. Vắng mặt, có đơn xin xở vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Quang M, sinh năm 20xx. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Phạm Hoàng D là người chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định của pháp luật. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 26/5/2022, Lê Phạm Hoàng D có nồng độ cồn trong máu là 30,7 Mg/100 ml máu điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 36B7-549.xx chở Nguyễn Quang M đi từ thành phố Hà Nội theo Quốc lộ 1A về tỉnh Thanh Hoá. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Phạm Hoàng D điều khiển xe mô tô đi đến ngã ba giao nhau giữa đường Trần Hưng Đạo với đường 30/6 thuộc phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Lúc này đèn tín hiệu điều khiển giao thông đang ở chế độ đèn đỏ theo chiều di chuyển của Lê Phạm Hoàng D. Do không chấp hành tín hiệu đèn đỏ, không giảm tốc khi đến đường giao nhau, Lê Phạm Hoàng D vẫn điều khiển xe mô tô đi vượt đèn đỏ với tốc độ khoảng 43km/h. Lúc này ông Trịnh Đức C là cán bộ đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố NB đang làm nhiệm vụ chỉ huy điều hành giao thông, đảm bảo trật tự an toàn giao thông tại khu vực ngã ba theo kế hoạch công tác tuần số 76 ngày 22/5/2022 của Công an thành phố NB đứng trên vỉa hè đường Trần Hưng Đạo phát hiện D vượt đèn đỏ nên đi từ trên vỉa hè xuống lòng đường và giơ tay ra hiệu lệnh yêu cầu D dừng xe. Lúc này D quan sát thấy ông C có hiệu lệnh yêu cầu D dừng xe ở khoảng cách gần 40 m nhưng D không chấp hành mà có hành vi lạng lách nhằm mục đích tránh ông C để bỏ chạy nên xe mô tô D điều khiển đã đâm vào ông C, dẫn đến ông C văng ra phía trước đầu xe mô tô rồi ngã ra đường. Xe mô tô bị đổ nghiêng bên trái cày rê trên mặt đường va chạm với dải phân cứng giữa đường. D, M và ông C bị thương được đưa vào bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình cấp cứu, sau đó ông C được chuyển lên bệnh viện hữu nghị Việt Đức Hà Nội điều trị đến ngày 23/6/2022 thì xuất viện. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành thu giữ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 36B7-549.xx, 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 36B7-549.xx mang tên Nguyễn Thị B, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Quang M.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, cho thấy:
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra tai nạn là km 264+800 quốc lộ 1A bên chiều đường Hà Nội - Thanh Hoá. Đường quốc lộ 1A là đường đôi có dải phân cách cố định cao 0,3m rộng 03m, chia hai chiều đường. Mỗi chiều đường rộng 10,7m; mặt đường được trải nhựa, có vạch sơn chia làn đường. Vị trí tai nạn là ngã ba có đèn tín hiệu giao thông, tại lối mở có biển cấm đi ngược chiều.
- Mốc cố định: Đầu dải phân cách cố định phía Thanh Hoá tại ngã ba có đèn tín hiệu giao thông.
- Mép đường làm chuẩn là mép đường bên phải đường quốc lộ 1A chiều Hà Nội - Thanh Hoá.
- Vị trí số 1: Phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 36B7-549.xx đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe quay về hướng Thanh Hoá. Trục bánh trước cách mép đường 9,5m; cách cột mốc km 264+800 nằm trên dải phân cách 6,3m.Trục bánh sau cách mép đường 10,3m; cách điểm mốc 27,4m.
- Vị trí số 2: Vết sạt trên thành bờ bo dải phân cách kích thước (0,5x0,005)m được xác định nằm trên thành mặt ngoài bờ bo có chiều hướng Hà Nội – Thanh Hoá, đầu vết sạt được xác định cách mốc cố định 24,7m; cao hơn mặt đường 0,1m. Điểm cuối vết sạt xác định cách trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 36 B7-549.xx là 2,5m; cao hơn so với mặt đường 0,2m.
- Vị trí số 3: Vết máu kích thước (0,2x0,2)m được xác định trên mặt đường, tâm vết cách mép đường 10,3m; cách mốc cố định 24,7m; cách trục bánh sau xe mô tô là 2,4m.
- Vị trí số 4: Vết máu kích thước (0,4x0,3)m được xác định trên mặt đường. Tâm vết cách mép đường 3,2m; cách mốc cố định 23,5m; cách vạch liền dừng xe trước phần đường dành cho người đi bộ 46m;cách trục bánh sau xe mô tô là 07m.
- Vị trí số 5: Vết sạt dài 10,5m được xác định trên mặt đường có chiều hướng Hà Nội - Thanh Hoá. Đầu vết sạt cách mép đường 6m; cách mốc cố định 18,6m; cách tâm vết máu số 4 là 5,6m; cách vạch liền dừng xe trước phần đường dành cho người đi bộ là 42,3m.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 36B7-549.xx:
- Đầu tay nắm bên trái + ốp cao su có vết sạt tì mài kích thước (3x3)cm chiều trước về sau.
- ½ bên trái ốp nhựa đầu xe có vết sạt tì mài + vết sạt trượt kích thước (18x12)cm; chiều trước về sau, trên bề mặt rải rác có bám dính dị vật màu xám dạng da + mô tế bào người.
- Cánh yếm bên trái bung bật các mấu hãm tạo khe hở 0,5cm. Mặt ngoài cánh yếm có vết sạt xước kích thước (33x11)cm.
- Chắn bùn bánh trước bị sô lệch từ trái sang phải, lệch 02cm theo vị trí cũ, mũi chắn bùn bám dính dị vật màu đỏ. Mặt bên phải chắn bùn trước cách mũi chắn bùn 25cm có vết sạt chùi bụi đất trên diện kích thước (10x4)cm chiều trước về sau. Tâm vết cách đất 58cm.
- Mặt trước của giảm sóc bên phải phía trước có vết sạt in ấn hình sợi vải kích thước (2,5x1)cm. Tâm vết cách đất 27cm.
- Má lốp bên phải bánh trước có vết sạt cao su, chùi bụi đất kích thước (20x2)cm, tâm vết cách chân van 13cm, ngược chiều tiến của bánh xe.
- Đầu ốp bên trái trục bánh trước có vết sạt tì mài kích thước (2,5x1)cm chiều trước về sau.
- Để chân bên trái người điều khiển bị cong vênh từ trước về sau 07cm theo vị trí cũ, sạt tì mài lộ lõi sắt.
- Đầu để chân bên trái người ngồi sau có vết sạt tì mài kích thước (2x2)cm chiều từ trước về sau.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Còi, đèn xi nhan, phanh hoạt động bình thường có tác dụng. Chiều dài của phương tiện 1914m.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình tiến hành trích xuất hình ảnh camera tại ngã ba giao nhau giữa đường Trần Hưng Đạo với đường 30/6 quay hướng Hà Nội - Thanh Hoá thuộc hệ thống camera giao thông do đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Ninh Bình quản lý vào 01 đĩa DVD-R và ra Quyết định trưng cầu giám định xác định hình ảnh camera có bị cắt ghép chỉnh sửa hay không, mô tả diễn biến liên quan và trưng cầu giám định tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 36B7-549.95 do Duy điều khiển qua hình ảnh camera.
Tại bản Kết luận giám định số 553/KL-KTHAS-KTS&ĐT ngày 14/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định. Trích xuất được 10 ảnh mô tả diễn biến liên quan đến vụ tai nạn giao thông trong tệp tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định. Ảnh trích xuất được thể hiện trong bản ảnh gửi kèm theo kết luận.
Tại bản Kết luận giám định số 1207/KL-KTHS ngày 26/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 36B7-549.xx tại thời điểm 14 giờ 32 phút 56 giây trong mẫu cần giám định (ký hiệu A) là 43km/h (+- 1,8 km).
Ngày 22/7/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình ra Quyết định trưng cầu giám định mức độ tổn hại phần trăm sức khoẻ và cơ chế hình thành thương tích của ông Trịnh Đức C.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 066/2022/Th.T- GĐPY ngày 02/8/2022 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh Ninh Bình kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 xác định:
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 61%.
Kết luận khác: Cơ chế hình hành thương tích: Tổn thương: Do vật tầy trực tiếp gây nên.
Ngày 15/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 04 giám định bổ sung mức độ tổn hại phần trăm sức khoẻ và cơ chế hình thành thương tích của Trịnh Đức C theo bệnh án số 2200216522 của bệnh viện hữu nghị Việt Đức Hà Nội xác định Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 61%.
Kết luận khác: Cơ chế hình hành thương tích: Đã xác định tại bản kết luận số 066/2022/Th.T- GĐPY ngày 02/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình.
Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 15/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Phạm Hoàng D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Phạm Hoàng D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Phạm Hoàng D từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Phạm Hoàng D cho UBND phường QT, thành phố TH, tỉnh Thanh Hoá giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Phạm Hoàng D có trách nhiệm phối hợp với UBND phường QT, thành phố TH, tỉnh Thanh Hoá trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Phạm Hoàng D thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến gì với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.
Bị cáo không tranh luận gì với lời nhận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản hiện trường; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/5/2022, tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Trần Hưng Đạo với đường 30/6, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Lê Phạm Hoàng D đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B7-549.xx cố tình không chấp hành hiệu lệnh của ông Trịnh Đức C cán bộ đội Cảnh sát giao thông trật tự công an thành phố Ninh Bình cản trở ông C thi hành công vụ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính và hoạt động công vụ của cơ quản quản lý hành chính Nhà nước, làm mất an ninh trật tự xã hội, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lo sợ và nhận thức còn hạn chế, không làm chủ được bản thân, bất chấp hiệu lệnh và cản trở người thi hành công vụ, dẫn đến việc phạm tội. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ răn đe, phòng ngừa. Việc cho bị cáo cải tạo tại địa phương không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thừng thiệt hại cho người bị hại là ông Trịnh Đức C tổng số tiền là 120 triệu đồng. Ông C đã nhận đủ số tiền trên và không đề nghị gì, nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Các vấn đề khác:
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B7-549.95 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Bình, quá trình điều tra xác định là của chị Nguyễn Thị Bình sinh năm 19xx trú tại thôn x, xã QM, thành phố SS, tỉnh Thanh Hoá (là chị gái của M). Chi B đã cho Nguyễn Quang M chiếc xe mô tô trên. Ngày 16/5/2022 M giao xe cho D điều khiển M không biết D chưa có giấy phép lái xe mô tô. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc xe trên và 01 đăng ký xe mô tô cùng giấy phép lái xe mô tô hạng A1 cho Nguyễn Quang M. Anh M đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì.
Đối với hành vi vượt đèn đỏ, điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe và điều khiển xe mà trong người có nồng độ cồn trong máu là 30,7 mg/100ml máu của Lê Phạm Hoàng D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã chuyển hồ sơ liên quan đến đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Ninh Bình xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với thương tích của Lê Phạm Hoàng D và Nguyễn Quang M do thương tích không lớn, không ảnh hưởng đến sức khoẻ, D và M có đơn xin từ chối giám định thương tích nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với hành vi của Nguyễn Quang M giao xe mô tô cho D điều khiển. Quá trình điều tra xác định M không biết D chưa có giấy phép lái xe mô tô. Khi D không chấp hành hiệu lệnh, điều khiển xe mô tô lạng lách bỏ chạy dẫn đến va chạm với ông C thì M không xúi giục D. Vì vậy hành vi của M không có dấu hiệu tội phạm.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Phạm Hoàng D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Lê Phạm Hoàng D 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thở thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Phạm Hoàng D cho Ủy ban nhân dân phường QT, thành phố TH, tỉnh Thanh Hoá giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Phạm Hoàng D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường QT, thành phố TH, tỉnh Thanh Hoá trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Phạm Hoàng D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận : - TANDtỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSNDTP Ninh Bình; - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình; - Công an thành phố Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - THA hình sự - Bị cáo; Bị hại; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Tuyết |