vanban.org

Bản án 50/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thị Phương T 20 ( hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2022.

Phạt tiền bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Phương Thư Mua bán trái phép ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thị Phương T 20 ( hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HS-ST
Ngày 04-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh

Thẩm phán: Ông Phạm Hữu Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải

Bà Nguyễn Thị Luyến

Ông Đào Tuấn Điệp

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thùy – Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Xuân Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 2 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1979 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Số 37/36/30 Trần Nguyên Hãn, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng. Chỗ ở: TDP Bạch Đằng 2, thị trấn Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Nghị ( đã chết) và bà Nguyễn Thị Thành; có chồng là Hoàng Văn Chiến ( đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2022 đến ngày 16/6/2022 chuyển tạm giam; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Phương T: Ông Nguyễn Xuân Tứ – Luật sư Văn phòng Luật sư 13-5 thuộc đoàn luật sư thành phố Hải Phòng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Hồi 21 giờ 40’ ngày 12/6/2022, tại trước cửa quán cà phê Phố Núi thuộc tổ dân phố Bạch Đằng 2, Thị trấn Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Hải Phòng kết phối hợp với các lực lượng chức năng bắt quả tang Nguyễn Thị Phương T có hành vi cất giấu ma túy để bán cho khách. Thu giữ: tại người, xe máy điện và tủ quần áo của Thư 13 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nilon chứa 19 viên nén màu xanh, 01 túi nilon chứa 02 viên nén màu xanh, 01 túi nilon chứa nhiều viên nén màu xanh, 01 túi nilon chứa nhiều viên nén màu đỏ màu xanh. Ngoài ra còn thu giữ của Thư 01 cân điện tử, 01 điện thoại di động Iphone, 01 xe máy điện và chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Phương T.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Phương T thu giữ 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone và 10.000.000đồng.

Tại Kết quả giám định số 268/KL-KTHS(MT) ngày 15/06/2022 đã xác định: Toàn bộ số tinh thể màu trắng và các viên nén thu giữ của Thư khi bắt quả tang và khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Thư là ma túy có tổng khối lượng là 155,99 gam Ketamine, 68,73 gam MDMA, 93,43 gam Methamphetamine.

(Trong đó 19 viên nén màu xanh có khối lượng là 6,33 gam MDMA. Từ đó xác định được 01 viên thuốc lắc cùng loại có khối lượng là 0,333 gam).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Phương T khai nhận: Thư bắt đầu mua bán ma túy để bán kiếm lời từ đầu tháng 6/2022. Thư đã hai lần mua ma túy của người đàn ông tên Dũng nhà ở xã An Đồng, huyện An Dương thành phố Hải Phòng. Lần thứ nhất, cách ngày bị bắt khoảng 10 ngày, Thư mua của Dũng 50 gam ma túy đá với giá 12.000.000 đồng và 160 viên thuốc lắc với giá 16.000.000đồng. Lần thứ hai, cách ngày bị bắt khoảng 04 ngày, Thư mua của Dũng 130 gam Ketamine với giá 40.000.000đồng. Cả hai lần mua ma túy của Dũng, Thư đều vào buổi tối và ở khu vực chân cầu An Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Dũng nói do Thư mới mua bán ma túy, nên cả hai lần mua ma túy của Dũng, Dũng đã cho thêm Thư một lượng ma túy đá và Ketamine, toàn bộ số ma túy đá, Ketamine và thuốc lắc bị cơ quan công an thu giữ đều có nguồn gốc mua của Dũng. Ngoài hai lần mua ma túy của Dũng thì cách ngày bị bắt khoảng 09 ngày vào buổi tối Thư đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông tên Tuấn Anh không rõ lai lịch 140 viên hồng phiến với giá 2.800.000đồng. Toàn bộ số ma túy mua được của Dũng và Tuấn Anh, Thư mang về nhà dùng cân điện tử đóng gói, phân chia và cất giấu tại phòng ngủ tầng 2 nhà Thư và tại cốp xe máy điện BKS: MĐ1 - 397.26 của Thư. Khoảng hơn 21 giờ ngày 12/6/2022, Thư nhận được điện thoại của một người phụ nữ tự giới thiệu là bạn gái của Quang (bạn xã hội của Thư, không biết lai lịch) hỏi mua 02 gam Ketamine và 05 viên thuốc lắc. Thư đồng ý bán và hẹn người phụ nữ này ra khu vực chợ Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng để giao ma túy. Sau đó Thư ra bãi gửi xe của Trung tâm thương mại thị trấn Núi Đèo mở cốp xe máy điện của Thư lấy 02 gam Ketamine và 05 viên thuốc lắc bán cho người phụ nữ với giá 2.150.000đồng, đồng thời, Thư lấy thêm 03 túi Ketamine và 19 viên thuốc lắc (cùng loại với Ketamine, thuốc lắc đã bán cho người phụ nữ) về quán cà phê Phố Núi của Thư để bán nếu có khách mua thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ. Ngay lúc đó Thư đã tự nguyện lấy 02 viên thuốc lắc Thư cất giấu ở tủ quần áo giao nộp cho Cơ quan Công an và chỉ cho Cơ quan Công an thu giữ toàn bộ số ma túy Thư cất giấu tại cốp xe máy điện BKS: MĐ1 - 397.26 Thư gửi tại bãi gửi xe của Trung tâm thương mại Núi Đèo.

Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ tại tủ quần áo của Thư 01 túi Ketamine khi khám xét nơi ở của Thư, Thư khai túi Ketamine là của Thư quên chưa giao nộp khi Cơ quan công an kiểm tra.

Lời khai của Nguyễn Thị Phương T phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ và kết quả giám định có trong hồ sơ vụ án.

Đối với xe máy điện nhãn hiệu MANTISBIKE mang BKS 15MĐ1 - 397.26 thu giữ của Nguyễn Thị Phương T. Tài liệu điều tra xác định chiếc xe máy điện trên do Thư mua với giá 7.000.000 đồng vào đầu tháng 6/2020 để cho con trai là cháu Hoàng Hà Mạnh làm phương tiện đi học. Đến khoảng tháng 5/2022, do Mạnh nghỉ hè nên Thư đã sử dụng chiếc xe máy điện trên làm phương tiện để đi mua ma túy và cất giấu ma túy bán cho khách để kiếm lời.

Về vật chứng gồm: Số ma túy còn lại sau giám định, 01 cân điện tử, 02 điện thoại Iphone, tiền mặt 10.000.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Phương T và 01 xe máy điện nhãn hiệu MANTISBIKE BKS 15MĐ1 - 397.26 - chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS-P1 ngày 24/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Thị Phương T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội

dung Cáo trạng đại diện Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về khối lượng ma túy mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội trở về với xã hội.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,

đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52;

điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T 20 ( hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt tiền bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám

đinh, 01 cân điện tử, 01 thìa nhựa. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu xanh và 01 xe máy điện BKS 15MĐ1-397.26 mà bị cáo đã sử dụng vào việc mua bán ma túy. Trả lại bị cáo số tiền 10.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án dân sự.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone màu vàng, 01 chứng minh nhân dân

mang tên bị cáo

Về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Phương T.

Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng

đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo có thời gian tham gia quân đội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án phù hợp, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và trả lại bị cáo chiếc xe máy điện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố

Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt

người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Trong thời gian từ đầu tháng 6/2022 đến ngày 12/6/2022, bị cáo Nguyễn Thị Phương T đã 03 lần mua tổng cộng 70.800.000 đồng ma túy gồm thuốc lắc, Ketamine, MDMA và Methamphetamine để bán kiếm lời. Ngày 12/6/2022, tại khu vực chợ Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Thư đã bán 02 gam Ketamine và 05 viên thuốc lắc có tổng khối lượng 1,665 gam MDMA cho người phụ nữ với giá 2.150.000 đồng. Số ma túy còn lại gồm: 155,99 gam Ketamine, 68,73 gam MDMA và 93,43 gam Methamphetamine Thư cất giấu tại cốp xe máy điện và tại nhà chưa kịp bán thì bị Cơ quan công an bắt quả tang, khám xét và thu giữ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị PhươngThư phạm tội mua bán trái phép chất ma túy vi phạm Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo

đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy là tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy gây nguy hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy. Vì vậy, cần xét xử nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung:

Tổng khối lượng ma túy bị cáo mua bán là 70,395 gam MDMA; 93,43

gam Methamphetamine và 157,99 gam ketamine. Bị cáo mua bán 02 chất ma túy trở lên và tổng khối lượng các chát ma túy trên 100 gam nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :

Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm

g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn nên

được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện kiểm sát cũng như người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy đinh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự với lý do bố bị cáo có thời gian tham gia quân đội là không có căn cứ chấp nhận.

Về hình phạt:

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ của bị cáo và khối lượng ma túy bị cáo đã mua bán, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lợi nhuận nên

phải áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo với mức 10.000.000 đồng là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, 01 cân điện tử, 01

thìa nhựa không còn giá trị sử dụng.

01 chiếc điện thoại Iphone màu xanh và 01 xe máy điện nhãn hiệu

MANTISBIKE, BKS 15MĐ1-397.26 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại Iphone màu vàng và số tiền 10.000.000 đồng, 01 chứng

minh nhân dân mang tên bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52;

điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thị Phương T 20 ( hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2022.

Phạt tiền bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố

tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 hộp bìa cát

tông dán kín, trên có dấu niêm phong số 268MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an thành phố Hải Phòng và chữ ký của Lê Đình Thạo, Nguyễn Duy Linh, Lương Văn Sùng, Nguyễn Huy Linh, Phạm Đức Diên, Nguyễn Thị Phương T; 01 cân điện tử màu trắng, 01 thìa nhựa màu trắng.

Tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone màu

xanh, có số imei: 359456494960868, số imei 2: 359456494856850 01 xe máy điện màu xanh, nhãn hiệu MANTISBIKE mang BKS: 15MĐ1-397.26, có số khung: RL9Y41NVNHAT01578, số máy: HFT60V800WS1170600981.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone màu vàng trắng, có số imei:

355839089399804, 01 chứng minh nhân dân mang tên bị cáo Nguyễn Thị Phương T và số tiền 10.000.000 ( mười triệu) đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2023 tại Cục thi hành án dân

sự thành phố Hải Phòng và Ủy nhiệm chi lập ngày 27/02/2023 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố

tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương T phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ