- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Thủy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 38; điểm c, khoản 1, điều 47; Bộ luật hình sự; Điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106; Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số :50/2023/HS-ST Ngày 18/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Xuân Thiện
2. Ông Đào Xuân Hải
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên,
tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không có; giới
tính: Nam
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố số 5, phường T, thành phố Bắc
Giang, tỉnh Bắc Giang;
- Chỗ ở: Thôn Ngọc Y, xã C, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp:
Tự do; Trình độ học vấn: 11/12;
- Con ông: Nguyễn Hữu Th; con bà: Nguyễn Thị Y, có vợ là Vũ Thị V; Bị
cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55/QĐ-XPHC ngày
26/8/2009 của Trưởng Công an phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang xử phạt Nguyễn Hữu T số tiền 200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã thi hành Quyết định ngày 26/8/2009).
+ Tại Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa
vào cơ sở chữa bệnh số 1085/QĐ-UBND ngày 16/3/2011 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Giang, thời hạn chữa bệnh đối với Nguyễn Hữu T là 12 tháng (đã chấp hành xong thời gian chữa bệnh từ ngày 27/6/2011 đến ngày 27/6/2012 theo Giấy chứng nhận số 125/11 ngày 27/6/2012).
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 83/QĐ-XPHC ngày
18/8/2012 của Trưởng Công an phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang xử phạt Nguyễn Hữu T số tiền 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã nộp phạt ngày 22/8/2012).
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 72/QĐ-XPHC ngày
12/10/2013 của Trưởng Công an phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang xử phạt Nguyễn Hữu T số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chưa thi hành quyết định nhưng đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính).
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 254/QĐ-XPHC ngày
26/12/2013 của Trưởng Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang xử phạt Nguyễn Hữu T số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chưa thi hành quyết định nhưng đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính).
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 127/QĐ-XPHC ngày
26/12/2013 của Trưởng Công an phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang xử phạt Nguyễn Hữu T số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (chưa thi hành quyết định nhưng đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính).
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2015/HSST ngày 14/9/2015 của Tòa
án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Hữu T 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/7/2015 nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ ngày 21/8/2014 đến ngày 27/8/2014 (án phí 200.000 đồng, đã chấp hành xong án phí vào ngày 23/11/2015).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2023, hiện đang tạm
giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Yên (có mặt tại phiên tòa).
+ Người bị hại. Chị Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau.
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 04/4/2023, Nguyễn Hữu T, ngồi uống nước
tại khu đô thị An Huy thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện Tân Yên cùng với bạn tên D, khoảng 40 tuổi ở thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (T không biết địa chỉ cụ thể của D). Sau đó, T mượn xe mô tô của D mục đích để đi mua thuốc tây về uống, D đồng ý. T điều khiển xe mô tô một mình đến cửa hàng thuốc tây Tâm Việt thuộc tổ dân phố P, thị trấn Chuyện Tân Yên, khi đến nơi, lúc này khoảng 14 giờ, T đỗ xe mô tô ở ngoài hành lang và đi bộ vào trong cửa hàng hỏi mua thuốc nhưng không thấy ai trông coi cửa hàng, T có gọi mấy tiếng “Chị ơi, chị ơi…” nhưng không thấy ai trả lời. T nhìn vào phía trong cửa hàng thấy trên mặt chiếc bàn phía trong nhà, sau quầy thuốc có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, có ốp màu trắng và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, có ốp bằng nhựa dẻo màu hồng, cả hai chiếc điện thoại đã cũ để ở bàn phía trong của quầy bán thuốc của chị Nguyễn Thị Kim X là người bán hàng tại cửa hàng thuốc thuốc tây Tâm Việt. T quan sát xung quanh không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Sau đó, T đi bộ men theo cửa, qua quầy bán thuốc để đi vào phía trong và tiến đến khu vực chiếc bàn sau quầy thuốc nơi để hai chiếc điện thoại rồi dùng hai tay mỗi tay cầm một chiếc điện thoại đi động của chị X rồi đi ra phía bên ngoài cửa. Sau khi trộm cắp được điện thoại của chị X, T cất giấu hai chiếc điện thoại trên vào túi quần sau bên trái chiếc quần đang mặc và ngồi lên xe mô tô điều khiển xe đi ra chỗ anh D để trả xe mô tô cho anh D, sau đó T đi bộ về nhà ở thôn N, xã C, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cất giấu điện thoại trong tủ quần áo cá nhân để tìm nơi tiêu thụ.
Sau khi phá hiện bị mất điện thoại, ngày 12/4/2023, chị Nguyễn Thị Kim X
có đơn trình báo gửi Công an huyện Tân Yên và giao nộp dữ liệu điện tử gồm 01 file video được lưu trữ trong đĩa DVD có tên “5313898209927175898(1).MP4 ghi lại hình ảnh Nguyễn Hữu T trộm cắp điện thoại của chị X vào ngày 04/4/2023.
Ngày 13/4/2023, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên
Nguyễn Hữu T đã đến Công an huyện Tân Yên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Quá trình đầu thú Nguyễn Hữu T đã tự nguyện giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng có ốp màu trắng, mặt sau có in hình, chữ “Smile 1980’S”, có số IMEI 357208090930262; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, có ốp màu hồng, trắng, có IMEI 353814081959469, cả hai chiếc điện thoại đều đã cũ và đã qua sử dụng; 01 chiếc áo cộc màu xanh, cổ áo màu đen trước ngược có chữ “egan”, áo cũ, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài màu đen, ở cạp quần cố chữ “DELDEN”, quần cũ, đã qua sử dụng; 01 đôi dép tông có quai màu đen, đế màu vàng, cũ, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 10/KL-ĐGTS ngày
17/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, có
dung lượng 64GB, có ốp màu trắng, mặt sau có in hình, chữ “Smile 1980’S”, có số IMEI: 357208090930262, điện thoại cũ đã qua sử dụng có giá: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn);
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, có
ốp bằng nhựa dẻo màu hồng, có dung lượng 32GB, có IMEI: 353814081959469, điện thoại cũ, đã qua sử dụng trị giá: 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).
Tổng giá trị tài sản: 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng
chẵn).
Tại Kết luận giám định số 848/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của Phòng Kỹ
thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong các file
video có tên “5313898209927175898(1).MP4”; dung lượng: 1,03MB; thời lượng: 00 phút 33 giây lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.
2. Trích xuất được 08 (tám) ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong file
video gửi giám định.
Quá trình điều tra xác định hai chiếc điện thoại trên là tài sản thuộc quyền
sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị Kim X nên ngày 24/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho chị X. Đến nay chị X không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại.
Tại cơ quan điều tra bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
minh.
Tại cáo trạng số 41/CT-VKS, ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Tân Yên đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1, điều 173, điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Hữu T từ 10 (mười) tháng đến 12(mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 13/4/2023.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự: điểm a,
khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo cộc màu xanh, cổ áo màu đen trước ngực có
chữ “egan”, áo cũ; 01 chiếc quần dài màu đen, ở cạp quần cố chữ “DELDEN”, quần cũ; 01 đôi dép tông có quai màu đen, đế màu vàng.
Ngoài ra còn để nghị xử lý tiền án phí, quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật:
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi “trộm cắp tài
sản” như bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1.]Về Tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều
tra công an huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự
vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Nên hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điều 292; Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người trên.
[2.]Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay Nguyễn Hữu T thừa nhận Khoảng
14 giờ ngày 04/4/2023, tại cửa hàng thuốc tây Tâm Việt thuộc tổ dân phố P, thị trấn C, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Do không có người trông coi, quản lý nên Nguyễn Hữu T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, có ốp màu trắng, mặt sau có in hình, chữ “Smile 1980’S”, có số IMEI: 357208090930262, điện thoại cũ đã qua sử dụng, trị giá 5.000.000 đồng và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, có ốp bằng nhựa dẻo màu hồng, có dung lượng 32GB, có IMEI: 353814081959469, điện thoại cũ đã qua sử dụng, trị giá 3.500.000 đồng; tổng trị giá là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng chẵn) của chị Nguyễn Thị Kim X- sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các
bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu hồi được, phù hợp với chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Điều đó có đủ cơ sở chắc chắn khẳng định Cáo trạng số 41/CT-VKS-TY ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài
sản của người khác một cách trái pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi một cách liều lĩnh táo bạo giữa ban ngày gây bức xúc, bất bình cho quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Vì vậy cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra có như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự nào.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại
phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ra đầu thú, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại; có bố là thương binh nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng
xét xử thấy bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, năm 2015 bị xét xử tội "Trộm cắp tài sản". Nay tiếp tục phạm tội "Trộm cắp tài sản" với lỗi cố ý. Do vậy lần phạm tội này cần thiết có mức án nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không
có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 chiếc áo cộc màu xanh, cổ áo màu đen trước ngực
có chữ “egan”, áo cũ; 01 chiếc quần dài màu đen, ở cạp quần cố chữ “DELDEN”, quần cũ; 01 đôi dép tông có quai màu đen, đế màu vàng, cũ và các tài sản này của Nguyễn Hữu T mặc trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp. này không có giá trị bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy
Đối với người tên D mà T khai nhận khoảng 40 tuổi ở thị trấn Cao
Thượng, huyện Tân Yên là người cho T mượn xe mô tô nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của D ở đâu và không nhớ biểm kiểm soát xe mô tô mà D cho T mượn. Mặt khác khi trả xe T không nói cho D biết việc T trộm cắp 02 chiếc điện thoại của chị X. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã xác minh tại Công an thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên nhưng không xác định được người này là ai nên Cơ quan điều tra không tiến hành làm việc được đối với người đàn ông này.
[7] Về tiền án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền
án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo luật định;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều
38; điểm c, khoản 1, điều 47; Bộ luật hình sự; Điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106; Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
1. Xử phạt: Nguyễn Hữu T 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”,
thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Thuỷ
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo cộc màu xanh, cổ áo màu
đen trước ngực có chữ “egan”, áo cũ; 01 chiếc quần dài màu đen, ở cạp quần cố chữ “DELDEN”, quần cũ; 01 đôi dép tông có quai màu đen, đế màu vàng, cũ.
3. Về tiền án phí:
Bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền
án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành
án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - Công an huyện Tân Yên; - Chi cục THADS huyện Tân Yên; - Bị cáo; - Người CQLNVLQ; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Vân Anh |