vanban.org

Bản án 50/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Trần Văn B 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã N, huyện Quỳnh Lưu nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao Trần Văn B cho chính quyền UBND xã N, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn B phạm tội - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Trần Văn B 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HS- ST
Ngày: 28/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nghệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thịnh- Giáo viên hưu trí

Ông Đậu Cao Nhu- Hưu trí

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn B; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09/01/2006, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Trần Văn N, sinh năm 1979 và con bà: Trần Thị B, sinh năm 1979; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/01/2023 tới nay. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Văn N, sinh năm 1979 (bố đẻ). Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Nghệ An- Chi nhánh số 1. Có mặt

- Bị hại: Anh Hồ Hữu N, sinh năm 1997. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nắm bắt tâm lý của một số người có nhu cầu đánh số lô, số đề trên cơ sở kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc nên Trần Văn B đã lập kênh mạng xã hội YouTube có tên “ Lô khung 2 ngày đại long”, sử dụng số điện thoại 0899.860.826 tạo tài khoản ứng dụng Zalo lấy tên “Đ”. Đồng thời, B mua tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương (Vietcombank) số 0791000056488 tên “nguyen minh k”. Hàng ngày, sau khi có kết quả mở thưởng của xổ số kiến thiết Miền Bắc thì B quay video nhận xét kết quả xổ số Miền Bắc ngày hôm đó, dự đoán các số trúng ngày hôm sau “với tỉ lệ chính xác cao” rồi đăng lên kênh YouTube đã lập trước đó nhằm tạo lòng tin cho người xem. Trong đoạn video, B để thông tin số điện thoại 0899.860.826 (đăng ký Zalo tên “Đ”) để người muốn mua số lô, số đề chính xác cao thì liên hệ với tài khoản Zalo trên để thực hiện hành vi giao dịch bán số lô, số đề nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Khi có người liên hệ với B để hỏi mua số lô, số đề thì B giới thiệu mình có khả năng soi cầu chuẩn, cung cấp các số lô, số đề chính xác cao và bán cho người bị hại với giá tiền từ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Khi người mua đồng ý, B yêu cầu người mua chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng Vietcombank số 0791000056488 tên “NGUYEN MINH K” của B đã mua trước đó. Sau khi người mua chuyển tiền thì Bắc gửi các cặp số lô, số đề có hai chữ số cho người mua qua ứng dụng Zalo. Các số lô, số đề bán cho người mua là do B tự nghĩ ra một cách ngẫu nhiên mà không có bất cứ cơ sở nào về tính chính xác như những lời quảng cáo của B.

Với cách thức như trên, ngày 10/01/2023, anh Hồ Hữu N xem kênh YouTube “lô khung 2 ngày đại long” của Bắc có nhiều video nhận xét kết quả xổ số Miền Bắc của ngày trước, dự đoán kết quả xổ số Miền Bắc ngày hôm sau với “Tỷ lệ chính xác cao”. Anh N đã lấy tài khoản Zalo của mình là “Gió” liên hệ với tài khoản Zalo “Đ” theo số điện thoại 0899.860.826 hỏi mua số lô, số đề. Sau khi thỏa thuận, do tin tưởng những thông tin Bắc đưa ra nên anh N chuyển cho B 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) (để mua một số lô) vào số tài khoản Ngân hàng Vietcombank số 0791000056488 tên “nguyen minh khoa”. Sau khi nhận được tiền B đã tự nghĩ ra và gửi cho anh N số lô: “04” và cam kết đánh sẽ trúng thưởng. Sau khi chuyển tiền, anh N đọc báo và xem được bài viết nói về phương thức, thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, thấy giống trường hợp của mình. Đồng thời qua theo dõi kết quả xổ số Miền Bắc ngày 10/01/2023 thấy số lô mà B đã bán cho mình không trúng thưởng. Biết mình bị lừa nên ngày 13/01/2023, anh N đã đến Công an xã N, huyện Q để trình báo sự việc.

Sau khi biết hành vi của mình bị tố giác, 16 giờ ngày 13/01/2023 Trần Văn B đã đến Công an xã N, huyện Q để đầu thú và giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng hồng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của mình, quá trình điều tra chứng minh được tổng số tiền mà Bắc lừa đảo chiếm đoạt của anh N là 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Cáo trạng số 48/CT-VKS-HS, ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Văn B từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu xung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng hồng, số IMEI: 358605071249704.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Trần Văn B đã bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Hồ Hữu N số tiền 2.000.000 đồng. Hiện tại, anh N không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo bà Vũ Thị H trình bày lời bào chữa: Bà đồng ý như cáo trạng truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, đầu thú và người bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nhận thức còn hạn chế. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 09 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đới với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Lời nói sau cùng bị cáo Trần Văn B xin hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai có tại hồ sơ; phù hợp lời khai của bị hại có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 10/01/2023, Trần Văn B đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Hồ Hữu N bằng hình thức bán số lô số đề với số tiền là 2.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú, người bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Bị cáo phạm tội có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nhận thức còn hạn chế, có nhân thân tốt. Nên cần áp dụng chính sách đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn để bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, được chấp nhận.

Bị cáo khi phạm tội là người dưới 18 tuổi nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo.

Vật chứng vụ án:

01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng hồng, số IMEI: 358605071249704 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Hồ Hữu N đã nhận lại số tiền 2.000.000đ, không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Đối với anh Hồ Hữu N là người đã mua số lô, số đề của Trần Văn B nhưng không dùng số đã mua để đánh bạc trái phép nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với các giao dịch có dấu hiệu tội phạm trong số tài khoản Ngân hàng Vietcombank số 0791000056488 tên “NGUYEN MINH K”, Cơ quan điều tra đã có công văn thông báo tìm bị hại nhưng chưa có kết quả, vì vậy sẽ tiếp tục xác minh và xử lý sau.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Văn B 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã N, huyện Quỳnh Lưu nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao Trần Văn B cho chính quyền UBND xã N, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng hồng, số IMEI: 358605071249704

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 15/02/2023 giữa cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh lưu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ