vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Dƣơng Thị Ch đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn S (giấy chứng nhận kết hôn số 21 do Ủy ban nhân dân xã Thuận Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An cấp ngày 10/5/2019).

Về con chung: Các con đã trƣởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Dương Thị Ch yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Dƣơng Thị Ch đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn S (giấy chứng nhận kết hôn số 21 do Ủy ban nhân dân xã Thuận Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An cấp ngày 10/5/2019).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21-4-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Châu Hồng Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu- Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 41/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2023/QĐST-DS ngày 10 tháng 04 năm 2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Dƣơng Thị Ch, sinh năm 1976; tạm trú: Số A khu phố T, phƣờng Đ, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974; tạm trú: Số A khu phố T, phƣờng Đ, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 12 năm 2022 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Dương Thị Ch trình bày:

Bà và ông S có tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện chung sống, hai bên có tổ chức đám cƣới vào năm 1993 nhƣng đến ngày 10/5/2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Đ, tỉnh Nghệ An và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 21. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng gia đình chồng tại phƣờng Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, ông S thỉnh thoảng uống rƣợu về say xỉn còn gây chuyện đánh đập bà, có khi còn cầm dao đe dọa bà. Vì vậy, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, vợ chồng bà bắt đầu sống ly thân từ đầu năm đến nay, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với ông S.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1998 và Nguyễn Văn Tiến A, sinh năm 2001. Các con đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn S đã đƣợc Tòa án triệu tập lên cung cấp bản tự khai vào ngày 10/3/2023, tham gia hòa giải vào ngày 22/3/2023, tham gia phiên tòa vào các ngày 10 và 21/4/2023 nhƣng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Ch, không cung cấp tài liệu chứng cứ và cũng không có ý kiến yêu cầu triệu tập thêm ngƣời tham gia tố tụng.

- Tại Biên bản xác minh ngày 14/3/2023 Hội Liên hiệp phụ nữ phường Đông Hòa cung cấp thông tin như sau: Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng không nhận đƣợc đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa bà Dƣơng Thị Ch với ông Nguyễn Văn S, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai ông, bà do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Ch, ông S nhƣ thế nào.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đƣơng sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Dƣơng Thị Ch và ông Nguyễn Văn S là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 21 do Ủy ban nhân dân xã Thuận Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An cấp ngày 10/5/2019, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng nguyên đơn xác định mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau, thƣờng xuyên cãi nhau, vợ chồng đã có thời gian sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay, ông bà không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không chăm sóc nhau. Quá trình tố tụng Tòa án đã triệu ông S để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng ông S bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ, hàn gắn quan hệ hôn nhân gia đình. Nhƣ vậy, chứng tỏ mục đích của cuộc hôn nhân không đạt đƣợc, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng không thể hàn gắn vì vậy yêu cầu xin ly hôn của bà Ch là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1998 và Nguyễn Văn Tiến A, sinh năm 2001. Các con đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dƣơng Thị Ch phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 229, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dƣơng Thị Ch đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn S (giấy chứng nhận kết hôn số 21 do Ủy ban nhân dân xã Thuận Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An cấp ngày 10/5/2019).

2. Về con chung: Các con đã trƣởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dƣơng Thị Ch phải chịu 300.000 ba trăm nghìn đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006068 ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 mƣời lăm ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật/.

Cỡ chữ