- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Mai Thị U yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Đàm Ngọc A"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Mai Thị U được ly hôn với ông Đàm Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/6/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Bình
Ông Lê Huỳnh Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 97/2023/TLVA-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Mai Thị U, sinh năm: 1985.
Nơi cư trú: Khu phố 3, phường Đ, TP. P, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- Bị đơn: Ông Đàm Ngọc A, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Khu phố 3, phường Đ, TP. P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Mai Thị U trình bày:
Bà Mai Thị U và ông Đàm Ngọc A chung sống với nhau từ năm 2003 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đông Hải, TP. Phan Rang – Tháp Chàm năm 2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại khu phố 3, phường Đông Hải, TP. Phan Rang – Tháp Chàm. Bà và ông A sống không hạnh phúc do tính tình không hoà hợp, thường xuyên mâu thuẫn, ông A cờ bạc, sử dụng ma tuý đá, không có trách nhiệm với vợ con. Nay tình cảm vợ chồng không còn bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông A.
Về con chung: Bà U và ông A có 04 người con chung; tên Đàm Thị Q, sinh ngày 24/9/2003 (đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết) và Đàm Ngọc Q, sinh ngày 25/3/2006, Đàm Thị M, sinh ngày 10/10/2010, Đàm Đăng H, sinh ngày 05/10/2017. Bà U yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Đàm Ngọc A: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông A nhưng ông A vẫn vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Mai Thị U khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Đàm Ngọc A. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường Đông Hải, TP. Phan Rang - Tháp Chàm nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Mai Thị U và ông Đàm Ngọc A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phuường Đông Hải, TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 190/2008 đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng Bà U và ông A sống không hạnh phúc do tính tình không hoà hợp, thường xuyên mâu thuẫn, ông A cờ bạc, sử dụng ma tuý đá, không có trách nhiệm với vợ con. Mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân của Bà U và ông A được Uỷ ban nhân dân phường Đông Hải xác nhận ngày 23/3/2023. Ông A biết việc Bà U khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông A không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa Bà U và ông A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Bà U và ông A có 04 con chung: Đàm Thị Q, sinh ngày 24/9/2003 (đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết); Đàm Ngọc Q, sinh ngày 25/3/2006; Đàm Thị M, sinh ngày 10/10/2010; Đàm Đăng H, sinh ngày 05/10/2017. Bà U yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy các con hiện đang ở với Bà U, được Bà U chăm sóc, giáo dục; các con có nguyện vọng ở với mẹ, Bà U có việc làm ổn định và có thu nhập đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cháu Q, M và H cho Bà U trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông A không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do Bà U không có yêu cầu.
Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Mai Thị U được ly hôn với ông Đàm Ngọc A.
2. Về con chung: Giao cho bà Mai Thị U được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên: Đàm Ngọc Q, sinh ngày 25/3/2006; Đàm Thị M, sinh ngày 10/10/2010 và Đàm Đăng H, sinh ngày 05/10/2017. Ông Đàm Ngọc A không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do Bà U không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Mai Thị U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) Bà U đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005009 ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Mai Thị U đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - UBND phường Đông Hải, TP. PR-TC (số 190/2008); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |