vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn K về việc “Ly hôn” với bị đơn bà Trần Thị E.

Về quan hê ̣ hôn nhân: Ông Hoàng Văn K được ly hôn với bà Trần Thị E. Về con chung: Không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Văn K + Trần Thị E"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn K về việc “Ly hôn” với bị đơn bà Trần Thị E.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ K
TỈNH KH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/4/2023
Về viê ̣c: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH KH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thi ̣ Bích Ngo ̣c

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Nguyễn Thái Minh

Ông Lê Kim Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh KH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố K, tỉnh KH xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1071/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/4/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn K – sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn Hoàng Xá, xã Bình Dương, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Bà Trần Thị E– sinh năm 1973

HKTT: 114/2 Nguyễn Khuyến, Vĩnh Hải, K, KH.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Hoàng Văn K trình bày: Ông và bà Trần Thị E tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Dương, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh vào năm 2020. Trong quá trình chung sống, ông và bà Ekhông hòa hợp, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, hiện ông và bà Eđã sống ly thân với nhau và không còn quan tâm chăm sóc nhau nên ông yêu cầu được ly hôn với bà E.

Về con chung: Ông và bà E không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bà Trần Thị E vắng mặt nên không có lời khai.

* Kiểm sát viên phát biểu:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử ,Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Trần Thị E có địa chỉ nơi cư trú tại 114/2 Nguyễn Khuyến, Vĩnh Hải, K, KH. theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn K về “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

[1.2] Nguyễn đơn ông Hoàng Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Trần Thị Eđã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt nhiều lần. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn K và bà Trần Thị Etự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Dương, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh vào năm 2020, nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xét thấy: Ông Hoàng Văn K yêu cầu ly hôn vớ i bà Trần Thị Evi cuô ̣c sống vợ

̀ chồng không hòa hợp, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau và hiện đang sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Trần Thị Enhưng bà đều vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện bà Ebỏ mặc và không còn quan tâm đến việc hòa giải quan hệ hôn nhân. Như vậy, lời trình bày của ông K về việc vợ chồng có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, ông K và bà Ecũng đã sống ly thân nhau, không còn ai quan tâm, chăm sóc cho nhau. Cuộc sống hôn nhân của ông K và bà Eđã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được là có căn cứ và đúng thực tế. Vì vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông K.

. Về con chung: Ông K và bà Ekhông có con chung.

. Về tài sản chung, nợ chung: Ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xExét.

. Về án phí: Ông K phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn K về việc “Ly hôn” với bị đơn bà Trần Thị E.

1. Về quan hê ̣ hôn nhân: Ông Hoàng Văn K được ly hôn với bà Trần Thị E.

2. Về con chung: Không có con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xExét.

4. Về án phí: Ông Hoàng Văn K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002501 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố K. Ông Hoàng Văn K đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn và bi ̣ đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ