vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Trương Thị Thanh L được ly hôn với ông Nguyễn Thành L.

2/. Về con chung: Bà Trương Thị Thanh L xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thuý V, sinh ngày 28/4/200, hiện tại đã đủ tuổi trưởng thành, phát triễn lành mạnh, không bị nhược điểm về thể chất, tinh thần, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. 3/. V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Liễu - Long"
  • Tòa quyết gì? / Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Trương Thị Thanh L được ly hôn với ông Nguyễn Thành L.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/8/2023
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Dư Thị Út.

2- Bà Khưu Liên Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Như - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 261/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thanh L, sinh năm 1977; Địa chỉ: số 33/161A, Khóm 10, Phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1979; Địa chỉ: số 156/12, đường Thống Nhất, Khóm 1, Phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

(Bà Liễu, ông Long vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Bích Liễu trình bày: Bà L và ông L tiến tới hôn nhân vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Trong quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do ông L thường xuyên rượu chè, say xỉn, đánh đập vợ con, không chăm lo cho gia đình, không chí thú làm ăn, làm một ngày thì nghĩ mấy ngày, khi say xỉn thì về chửi vợ con, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm sống, không có được tiếng nói chung trong gia đình, vợ chồng không hàn gắn được nên đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay bà xác định mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thành L.

Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông L có 01 con chung là Nguyễn Thuý V, sinh ngày 28/4/2005, hiện tại đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L nhưng ông L đều vắng mặt và không có bất cứ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Liễu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đã thực hiện đầy đủ. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.

Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, bà L và ông L chung sống có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn, không sống chung trong một thời gian dài, không thể hàn gắn nên việc bà L yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: Xét thấy chị Nguyễn Thuý V, sinh ngày 28/4/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Trương Thị Thanh L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành L có nơi cư trú tại số 156/12, Khóm 1, Phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trương Thị Thanh L có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 11/7/2023 nộp tại Tòa án, xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của bà L là hoàn toàn tự nguyện và không trái với pháp luật, nên được chấp nhận. Quá trình Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý vụ án đã triệu tập, thông báo cho ông Nguyễn Thành L tiến hành phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và triệu tập xét xử nhưng ông Nguyễn Thành L đều vắng mặt, kể cả ngày hôm nay (ngày 15/8/2023); cho thấy ông Nguyễn Thành L cố tình trốn tránh. Căn cứ khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự; áp dụng Điều 227; Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn bà Trương Thị Thanh L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với ông Nguyễn Thành L.

Xét về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông L tự nguyện tiến tới hôn nhân từ năm 2004, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 01, quyển 01/2005, ngày 11/01/2005 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân được xây dựng trên mối quan hệ tình cảm vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chia sẻ, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo bà L xác định quá trình chung sống vợ chồng thời gian gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông L thường xuyên rượu chè, say xỉn, đánh đập vợ con, không chăm lo cho gia đình, không chí thú làm ăn, làm một ngày thì nghĩ mấy ngày, khi say xỉn thì về chửi vợ con, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm sống, không có được tiếng nói chung trong gia đình, vợ chồng không hàn gắn được, không có tiếng nói chung trong gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Trương Thị Thanh L đã bỏ về nhà cha mẹ ruột tại số 33/161A, Khóm 10, Phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu sống từ đầu năm 2023 cho đến nay, nhưng ông Nguyễn Thành L không quan tâm, không hàn gắn. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập ông Nguyễn Thành Long đến Tòa án, nhưng ông Nguyễn Thành L đều không có ý kiến cũng như không đến Tòa án, cho thấy ông Nguyễn Thành L không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà L. Ngoài ra, tại các biên bản xác minh, đại diện chính quyền địa phương nơi vợ chồng bà và ông L sinh sống xác nhận vợ chồng bà Liễu và ông Long có xảy ra mâu thuẫn hôn nhân hay không thì chính quyền không nắm được do không ai trình báo với địa phương nhưng giữa bà L và ông L có sống ly thân là xảy ra thực tế, bà L đã bỏ về nhà cha mẹ ruột tại số 33/161A, Khóm 10, Phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu sống từ đầu năm 2023 cho đến nay nhưng cả hai đều không có biện pháp hàn gắn, bà L về nhà cha mẹ ruột và cả hai không sống chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, chỉ vì bất đồng quan điểm trong đời sống vợ chồng mà cả hai không có biện pháp hàn gắn, làm cho đời sống vợ chồng ngày càng xa cách hơn, đời sống chung không còn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Thanh L đối với ông Nguyễn Thành L như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ.

Về con chung: Theo lời trình bày của bà L phù hợp với giấy khai sinh và biên bản xác minh của chính quyền địa phương cho thấy giữa bà L và ông L chung sống với nhau có 01 người con chung là Nguyễn Thuý V, sinh ngày 28/4/2023; Hội đồng xét xử thấy rằng theo lời trình bày của bà Liễu phù hợp với xác nhận của trưởng Khóm 1, Phường 5, thành phố Bạc Liêu và Giấy khai sinh của Nguyễn Thuý V do đó có đủ căn cứ xác định Nguyễn Thuý V đã đủ tuổi trưởng thành, bà Liễu cũng không yêu cầu xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Bà L xác định bà và ông L không có tài sản chung, không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà L xác định bà và ông L không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Bà Trương Thị Thanh L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 227, 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1./ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Trương Thị Thanh L được ly hôn với ông Nguyễn Thành L.

2/. Về con chung: Bà Trương Thị Thanh L xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thuý V, sinh ngày 28/4/200, hiện tại đã đủ tuổi trưởng thành, phát triễn lành mạnh, không bị nhược điểm về thể chất, tinh thần, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

3/. Về tài sản chung: Bà Trương Thị Thanh L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/. Về nợ chung: Bà Trương Thị Thanh L xác định vợ chồng không có nợ tài sản gì của ai và không ai nợ tài sản gì của vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

5/. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình bà Trương Thị Thanh L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Trương Thị Thanh L đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008763 ngày 08/6/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Án sơ thẩm xử công khai, bà Trương Thị Thanh L, ông Nguyễn Thành L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ