vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Bích Thảo-Trịnh Hoàng Nam"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-4-2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hải Hưng

Ông Huỳnh Việt Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 27/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Bích T, sinh năm 1997 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hoà, xã Vĩnh Thịnh, huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Trịnh Hoàng N, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 4, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà nguyên đơn chị Trần Bích T trình bày: Năm 2018 chị và anh Trịnh Hoàng N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, anh N không lo làm ăn, không quan tâm đến cuộc sống gia đình và có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N; Về con chung, có 01 người con chung tên Trịnh Nhã Uyên, sinh ngày 29/3/2003. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi người con chung tròn 18 tuổi; Về tài sản chung, về nợ chung, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà chị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi người con chung.

* Đối với bị đơn anh Trịnh Hoàng N, Tòa án đã tống đạt triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải, xét xử nhưng anh N vắng mặt không có lý do và không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Trần Bích T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Trịnh Hoàng N, địa chỉ ấp 4, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà anh N vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.

Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân giữa chị T với anh N là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị T yêu cầu ly hôn vì vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh N không lo làm ăn và có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Mặt khác, anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tham gia phiên hòa giải, nhưng anh N không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa chị T với anh N đã trầm trọng, quan hệ hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cho chị T và anh N ly hôn với nhau.

Về con chung: Xét thấy người con chung tên Trịnh Nhã Uyên đang sống với chị T. Mặt khác, anh N không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của chị T. Do đó, để đảm bảo cho con chung phát triển ổn định về tâm sinh lý, về điều kiện sống, nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Trịnh Nhã Uyên cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Tại phiên toà chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh N không có ý kiến đối với tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này các bên có xảy ra tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị T phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 244; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 53, 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

* Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Bích T với anh Trịnh Hoàng N.

2. Về con chung: Giao người con chung tên Trịnh Nhã Uyên, sinh ngày 29/3/2019 cho chị Trần Bích T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trịnh Hoàng N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Trần Bích T phải nộp số tiền 300.000 đồng, ngày 09 tháng 02 năm 2023 chị T đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010940 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ