vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xử cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Bá Gi"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 50/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 09/08/2023

HUYỆN THÁI THỤY Độc lập – Tự do – hạnh phúc V/v: Ly hôn giữa chị V và anh Gi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Ngô Văn Sang - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ghi biên bản phiên tòa - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy: Bà Phạm Thị Thanh Hải – kiểm sát viên Trong ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự hôn nhân và gia đình thụ lý số 98/2023/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐST- HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 25 /2023/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023, giữa: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1995 – Đề nghị xử vắng mặt Địa chỉ: thôn LT, xã T Tr, TT, tỉnh Thái Bình Bị đơn: Anh Nguyễn Bá Gi, sinh năm 1996 – Vắng mặt Địa chỉ: thôn BĐ, xã TN, huyện TT, Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/4/2023, bản tự khai 16/5/2023 ý kiến tại phiên hoà giải, đơn đề ngày07/7/2023, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Bá Gi tự nguyện tìm hiểu tự nguyện, kết hôn với nhau vào ngày 25/12/2017, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Th Tr, huyện TT, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống lao động tại gia đình nhà anh Nguyễn Bá Gi một thời gian. Quá trình chung sống khoảng được 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, luôn bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau. Căng thẳng từ tháng 4/2019 dẫn đến chị và anh Gi ly thân, hiện nay chị về nhà bố mẹ đẻ ở thôn L Tr, xã T Tr để ở. Từ khi ly thân, hai bên không còn quan thâm gì đến nhau, cắt đứt mọi liên lạc. Nay chị xác

định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Bá Gi không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Bá Gi. Về con chung: Chị và anh Nguyễn Bá Gi có một con chung là Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 21/8/2018. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai chị đề nghị giải quyết anh Nguyễn Bá Gi trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị cấp dưỡng nuôi con cùng anh Gi mỗi tháng 1.000.000 đồng, tuy nhiên hiện nay chị được biết anh Nguyễn Bá Gi không đến Tòa án làm việc nên chị có ý kiến đề nghị tòa án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Bá Gi vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết nên không ghi được ý kiến trình bày của anh Nguyễn Bá G. Biên bản lấy lời khai bà Phạm Thị L, sinh năm 1974; Địa chỉ: thôn BĐ, xã TN, huyện TT, tỉnh Thái Bình là mẹ đẻ anh Nguyễn Bá Gi có nội dung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi kết hôn với nhau vào ngày 25/12/2017, sau khi kết hôn anh, chị ở chung cùng gia đình nhà bà được hơn 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp và do chị V có quan hệ ngoại tình. Từ tháng 03/2019 đến nay chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi ly thân. Anh Nguyễn Bá Gi có địa chỉ ở tại nhà bà tại thôn BĐ, xã T Ng, bà xác định tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi không còn, đề nghị Toà án giải quyết ly hôn; Xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã T Ng có nội dung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi có thời gian chung sống tại nhà anh Nguyễn Bá Gi tại thôn Bích Đoài, xã T Ng, huyện T T, tỉnh Thái Bình. Quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi như thế nào chị địa phương không rõ nhưng khoảng từ năm 2020 đến nay chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi không cùng chung sống với nhau tại xã Th Ng nữa. Nay chị Nguyễn Thị V có yêu cầu giải quyết ly hôn anh Nguyễn Bá Gi đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết. Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều đúng quy định. Về nội dung vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Bá Gi; Về con chung: Đề nghị áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi con Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 21/8/2018, chị Nguyễn Thị V không yêu cầu anh Nguyễn Bá Gi cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra việc giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt các đương sự. [2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn: [2.1]. Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T Tr, huyện TT, tỉnh Thái Bình vào ngày 25/12/2017, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống khoảng đến tháng 3/2019 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm. Căng thẳng từ tháng 4/2019 dẫn đến chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi ly thân. Từ khi ly thân, hai bên không còn quan tâm đến nhau, cắt đứt mọi liên lạc. Anh Nguyễn Bá Gi biết rõ chị Nguyễn Thị V yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng bỏ mặc không đến làm việc nên không có giải pháp nào hoà giải cho anh chị. Bà Phạm Thị L là mẹ đẻ anh Nguyễn Bá Gi cũng xác định tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Vi và anh Nguyễn Bá Giang không còn và đề nghị giải quyết ly hôn. Từ các chứng cứ đã thu thập, xác định tình trạng mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Bá Gi. [2.2]. Về việc nuôi dưỡng con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi có một con chung là Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 21/8/2018. Anh Nguyễn Bá Gi không đến Toà án làm việc không rõ anh Nguyễn Bá Giang có nguyện vọng và điều kiện nuôi dưỡng con chung hay không. Chị Nguyễn Thị V có điều kiện nuôi dưỡng con chung và cũng đồng ý được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đề nghị của chị Nguyễn Thị V là phù hợp với các quy định tại các Điều 81, Điều 82; Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình nên giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quỳnh A đến khi đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu anh Nguyễn Bá Gi cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Bá Gi có quyền thăm nom con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết. [2.3]. Về phân chia tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [3]. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QuyÕt ®Þnh: Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Bá G 2.Về việc nuôi dưỡng con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Giang có một con chung là Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 21/8/2018. Giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quỳnh A đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu anh Nguyễn Bá Gi cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Bá Gi có quyền thăm nom con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết. 3. VÒ phân chia tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 4. VÒ ¸n phÝ: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Án phí ly hôn được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị V đã nộp theo biên lai số 0005335 ngày 16/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy. Chị Nguyễn Thị V đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. 5. QuyÒn kh¸ng c¸o: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bá Gi vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ