- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nhâm -Sớm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Nh: Cho chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn anh Dương Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST Ngày 17/8/2023 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN HỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dƣơng Văn Xuyên
2. Ông Nguyễn Văn Vĩ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Hện Sóc
Sơn, TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Sóc Sơn, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Sóc Sơn, TP Hà
Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 337/2023/TLST-HNG ngày 16 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1982
Nơi cư trú: Thôn Th Tr, xã M Ph, Hện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội– có mặt
Bị đơn: Anh Dƣơng Văn S, sinh năm 1975
Nơi cư trú: Thôn Th Tr, xã M Ph, Hện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội– vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 31/5/2023 và các lời khai tiếp theo
nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Nh trình bày:
- Về tình cảm: Chị và anh Dương Văn S lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 02/01/2001 tại UBND xã M Ph, Hện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Sau khi lấy nhau vợ chồng sống trên đất bố mẹ anh S ở thôn Th Tr, xã M Ph, Sóc Sơn, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2005 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh S rườu chè, cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình, về đánh đập vợ con, đập phá tài sản. Từ năm 2021 tình trạng vợ chồng ngày càng trầm trọng. Gia đình hai bên đã hòa giải nhiều nhưng không thành, anh S không thay đổi, tiếp tục nghiện rượu, cờ bạc, không chăm lo gì cho vợ con. Đầu năm 2022 vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc gì nhau. Vì hai con nên chị cố gắng chung sống cùng anh S để chăm sóc các con, nay các con đã lớn, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh S để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Dương Thị Phương L, sinh
ngày 23/01/202 và Dương Quang H, sinh ngày 23/9/004. Ly hôn các con đã trưởng thành, khỏe mạnh nên chị không có đề nghị gì.
- Về tài sản, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Chị xin tự giải
quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn là anh Dương Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần
nhưng anh không đến làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã tiến hành giao các thủ tục thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ cho anh S nhưng anh S không đến Tòa án làm việc, cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị Nh. Vì vậy Tòa án nhân dân Hện Sóc Sơn đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh S.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh, cho chị Nh được ly hôn anh S; Về con chung, về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết; Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại
phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình tranh chấp tranh chấp về việc
ly hôn. Bị đơn là anh Dương Văn S có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn Th Tr, xã M Ph, Hện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Hện Sóc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về sự vắng mặt của anh Dương Văn S: Tòa án nhân dân Hện Sóc Sơn đã triệu tập hợp lệ nhưng anh S vắng mặt lần hai không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh S.
Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Nh và anh Dương Văn S kết hôn với nhau
trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M Ph, Hện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ngày 02/01/2001. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng chị Nh, anh S chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh S nghiện rượu, cờ bạc, không chăm lo cho gia đình. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không được. Từ đầu năm 2022 vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc gì nhau từ đó đến nay. Bản thân anh Giới biết chị Nh xin ly hôn nhưng anh không hợp tác với Tòa án, không đến Tòa án để bảo vệ cuộc hôn nhân của mình chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Nh, anh S có 02 con chung là Dương Thị Phương L,
sinh ngày 23/01/202 và Dương Quang H, sinh ngày 23/9/004. Hiện nay các con đã trưởng thành, khỏe mạnh nên anh chị không có đề nghị gì nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Chị Nh, anh S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 146,
Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Nh: Cho chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn anh Dương Văn S.
2. Về án phí: Chị Nh phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ
vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện Sóc Sơn theo biên lai số 0006098 ngày 13/6/2023.
Chị Nh có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh S có
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND Hện Sóc Sơn; - Chi cục THADS Hện Sóc Sơn; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Việt Hùng |