vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Trần Văn T và chị Đỗ Thị H (Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật) Về án phí: Anh Trần Văn T phải nộp 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn T - Đỗ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 30/08/2023
Về việc: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán: - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nghi và bà Đào Thị Thanh Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan là thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Doan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 08 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2023/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 04 năm 2022 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 07 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST – HNGĐ ngày 15 tháng 08 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn T – sinh năm 1972.

Nơi ĐKHKTT và trú tại: Xóm 6, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Đỗ Thị H – sinh năm 1973

Nơi ĐKHKTT: Xóm 6, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình

Hiện trú tại: Xóm 13, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là anh Trần Văn T trình bày: Anh và chị Đỗ Thị H sau khoảng một năm tự do tìm hiểu đã tự nguyện kết hôn với nhau. Đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 12 năm 1992 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng chín năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm lối sống, chị H muốn anh phải toàn tâm toàn ý theo đạo thiên chúa, tuy nhiên hoàn cảnh gia đình anh không thể thuận theo được yêu cầu của chị H. Dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn lục đục kéo dài nhiều năm mà không có biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên anh và chị H đã sống ly thân nhau 11 năm nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị không tiếp tục sống chung được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh và chị H có hai con chung cháu Trần Thị D, sinh năm 1993, cháu Trần Thị P sinh năm 1996. Hiện hai cháu đã trưởng T tự lập được cuộc sống nay khi ly hôn anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung : Anh và chị H không có tài sản chung và công nợ nên nay ly hôn anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Trong bản tự khai ngày 02 tháng 06 năm 2023 bị đơn là chị Đỗ Thị H trình bày: Chị và anh T có đăng ký kết hôn năm 1992 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Anh chị chung sống với nhau đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân nhau 4 năm nay và vợ chồng không còn tình cảm nữa. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị đồng ý.

Về con chung: Chị và anh T có hai con chung cháu Trần Thị D, sinh năm 1993, cháu Trần Thị P sinh năm 1996. Hiện hai cháu đã trưởng thành tự lập được cuộc sống nay khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị và anh T tự thỏa thuận tài sản chung và công nợ do vậy nay nếu ly hôn chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

1. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành và thực hiện chưa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 144 khoản 4 Điều 147 và §iÒu 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn T ly hôn chị Đỗ Thị H.

- Án phí: Anh Trần Văn T nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Trần Văn T có đơn khởi kiện về việc: Ly hôn với chị Đỗ Thị H có nơi cư trú tại: Xóm 13, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện K thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn là chị Đỗ Thị H, chị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do. Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của các đương sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Đỗ Thị H có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 12 năm 1992 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về làm ăn sinh sống tại xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Cả anh T và chị H đều thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do rất nhiều nguyên nhân. Thực tế anh chị cũng đã sống ly thân nhau nhiều năm nay và không quan tâm liện lạc với nhau nữa. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án chị H biết việc anh T ly hôn anh mặc dù chị H có lời khai thể hiện quan điểm của mình là đồng ý ly hôn. Tuy nhiên các thủ tục sau đó chị H đã bỏ mặc như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa chị H vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy hôn nhân của anh chị chỉ tồn tại trên danh nghĩa và đã rơi vào tình trạng trầm trọng.

Biên bản xác minh tại chính quyền cơ sở xã Q thể hiện: Anh Trần Văn T và chị Đỗ Thị H có Đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ huyện K, tỉnh Ninh Bình vào năm 1992. Sau khi kết hôn anh chị về làm ăn sinh sống tại xóm 6, xã Q quá trình anh chị chung sống đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm lối sống và nhiều năm nay chị H đã bỏ anh T về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ chị H ở xóm 13, xã Đ. anh chị mỗi người ở một nơi và không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Do chị H và anh T đã sống ly thân nhiều năm nay nên anh T có đơn xin ly hôn chị H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H không thể khắc phục được, anh chị đã có thời gian sống ly thân nhau nhiều năm và hiện nay mỗi người một nơi, cả hai không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, như vậy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Anh T và chị H có hai con chung cháu Trần Thị D, sinh năm 1993, cháu Trần Thị P, sinh năm 1996. Hiện các cháu đã trưởng thành đủ 18 tuổi và tự lập được cuộc sống. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 144. Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh Trần Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Trần Văn T và chị Đỗ Thị H (Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)

2. Về án phí: Anh Trần Văn T phải nộp 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0004842 ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ