vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ…

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Mộng T đối với anh Đặng Văn S, xử cho ly hôn giữa chị T và anh S. Về quan hệ con chung: Giao cháu Đặng Nhật Huy, sinh ngày 17/6/2006 cho chị T tiếp tục nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu;…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mộng T, sinh năm 1982 (Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp Thị Trấn A, thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. * Bị đ…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA BÌNH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/06/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Liêu Tài Ngoánh.

2. Ông Huỳnh Tài Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Nhị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 06 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 437/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXX- ST ngày 19 tháng 05 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mộng T, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Thị Trấn A, thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

* Bị đơn: Anh Đặng Văn S, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Thị Trấn A, thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn là chị Phạm Thị Mộng T trình bày: Chị và anh Đặng Văn S xây dựng hôn nhân năm 2002. Có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Hai vợ chồng 02 người con chung tên Đặng Văn Tốt, sinh năm: 2003 và Đặng Nhật Huy, sinh ngày: 17/06/2006; Cháu Tốt đã trưởng thành và có cuộc sống riêng còn cháu Huy đang sống với chị; Hai vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chị là do hai vợ chồng chị bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại hai vợ chồng chị đã sống ly thân với nhau. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đặng Văn S, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu.

* Đối với bị đơn là anh Đặng Văn S, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng yêu cầu anh Đặng Văn S cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Mộng T, nhưng anh Đặng Văn S không cung cấp, cũng không có ý kiến bằng văn bản là đã từ bỏ quyền lợi của mình thông qua việc không tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án. Vì vậy, Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết .

Ý kiến của kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Mộng T đối với anh Đặng Văn S; Về con chung: Giao cháu Đặng Nhật Huy, sinh ngày 17/6/2006 cho anh S nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu, anh S được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở; Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Chị Phạm Thị Mộng T phải chịu là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là chị Phạm Thị Mộng T và anh Đặng Văn S, cùng địa chỉ huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Mộng T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Đặng Văn S được Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mộng T và anh Đặng Văn S xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo truyền thống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S là hợp pháp. Xét về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Phạm Thị Mộng T và anh Đặng Văn S, quá trình giải quyết vụ án xét thấy giữa chị T và anh S thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài thể hiện qua việc chị T và anh S không còn chung sống với nhau. Trong thời gian sống ly thân nhưng không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh S mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh S.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị T và anh S có 02 người con chung tên Đặng Văn Tốt, sinh ngày 05/02/2003 và Đặng Nhật Huy, sinh ngày 17/6/2006, cháu Tốt thì đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, còn cháu Huy đang sống chung với chị T. Nay chị T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Nhận thấy: Chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Cháu Đặng Nhật Huy, sinh ngày 17/6/2006 trên 07 tuổi có nguyện vọng được sống chung với chị T.

Theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: “… 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì giao cháu Đặng Nhật Huy, sinh ngày 17/6/2006 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu, anh S được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Đối với phần đề nghị của Viện Kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Mộng T đối với anh Đặng Văn S, xử cho ly hôn giữa chị T và anh S.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Đặng Nhật Huy, sinh ngày 17/6/2006 cho chị T tiếp tục nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu; Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011276 ngày 29/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

Cỡ chữ