vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H.

Về nuôi con chung: Căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; 1. Giao các con chung là Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 24/9/2011, Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 16/8/2013 và Nguyễn Phan Thiên B, sinh ngày 06/12/2015 cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHAN THỊ V - NGUYỄN HỮU H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 28-6-2023.
V/v: “Kiện ly hôn và tranh
chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các hội thẩm nhân dân:

1, Ông Bùi Hoàng Sơn.

2, Ông Lương Tú Huân.

-Thư ký phiên Tòa: Ông Phan Việt Tiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai – Kiểm sát viên.

Ngày 28/6/2023 tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 495/2022/TLST-HNGĐ ngày 06/12/2022 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/6/2023, giữa:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị V, sinh năm: 1992. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn 7, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1987. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Nơi cư trú: Thôn 7, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị V là nguyên đơn và anh H là bị đơn trình bày:

Về hôn nhân: Chị V và anh H về sống chung với nhau từ năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp tính tình trong việc làm ăn phát triển kinh kế gia đình nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã, đánh đập làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị V và anh H đã sống ly thân, cuộc sống không thể kéo dài được nữa, nay chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H, anh H cũng đồng ý ly hôn với chị V.

Về con chung: Chị V và anh H có 03 con chung là Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 24/9/2011, Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 16/8/2013 và Nguyễn Phan Thiên B, sinh ngày 06/12/2015. Sau khi sống ly thân chị V là người nuôi con, nay ly hôn chị V có nguyện vọng tiếp tục nuôi 03 con chung, anh H có nguyện vọng nuôi 02 con chung là cháu Ph và cháu B.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nếu được nuôi con chị V và anh H không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị V và anh H không ai yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa khẳng định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án do chủ tọa phiên tòa đã công bố tại phiên tòa thể hiện việc chị V khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình. Cho chị V ly hôn với anh H và tiếp tục giao các con chung cho chị V nuôi dưỡng, giáo dục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Pháp luật về tố tụng: Việc chị Phan Thị V khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu H, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự được mà tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi anh H cư trú. Căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

. Pháp luật về nội dung:

2.1, Về hôn nhân: Chị Phan Thị V và anh Nguyễn Hữu H về sống chung với nhau từ năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 57/KH ngày 24/5/2011. Nguyên nhân mâu thuẫn trong việc làm ăn phát triển kinh kế gia đình, nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã, đánh đập làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị V và anh H đã sống ly thân, nay chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H.

Căn cứ vào lời khai của đương sự và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì chị V và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã sống ly thân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị V và anh H ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị V yêu cầu ly hôn với anh H và anh H cũng đồng ý ly hôn với chị V là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

2.2, Về con chung: Chị V và anh H có 03 con chung. Nhận thấy, sau khi sống ly thân chị V là người trực tiếp nuôi con, nay ly hôn chị V có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con, nên cần giao 03 con chung là Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 24/9/2011, Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 16/8/2013 và Nguyễn Phan Thiên B, sinh ngày 06/12/2015 cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.

2.3, Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập xem xét.

Anh H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

2.4, Về tài sản và nợ chung: Chị V và anh H không ai yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Chị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H.

2. Về nuôi con chung: Căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình;

2.1. Giao các con chung là Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 24/9/2011, Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 16/8/2013 và Nguyễn Phan Thiên B, sinh ngày 06/12/2015 cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập xem xét.

Anh H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị V và anh H không ai yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Chị Phan Thị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí LHST, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS huyện Ea H’Leo theo biên lai số AA/2021/0010976 ngày 29/11/2022.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ