- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Đỗ Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27/4/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦN VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hoa.
2. Ông Lý Và Dưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 427/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Số 809, khu phố 2, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp 1, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(Chị L và anh T đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 22/6/2022, Bản tự khai ngày 11/12/2022 và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/11/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu còn sau đó vợ chồng hay bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Đến cuối năm 2018, anh chị sống ly thân cho đến nay. Chị nhận thấy không thể duy trì cuộc hôn nhân nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn T.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Đỗ Trọng N, sinh ngày 24/8/2012. Khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháuN và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị.
- Bị đơn anh Đỗ Văn T: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án số 427/TB-TLVA ngày 11 tháng 11 năm 2022 cho anh T. Anh Đỗ Văn T không có ý kiến trả lời theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập làm việc, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, hòa giải do đó anh T không có ý kiến trình bày.
- Quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và giao, tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án xác định và đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Đề nghị giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Tạm thời anh T không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con. Quyền vàN vụ của cha mẹ đối với con được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, không giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đỗ Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị L, anh T.
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Đỗ Văn T có hộ khẩu thường trú tại xã Suối Nho, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân huyện Đ theo Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Kim L khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về luật áp dụng: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Đỗ Văn T đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01 tháng 11 năm 2011 nên áp dụng luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Đỗ Văn T đã tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 01/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L: Chị L xin ly hôn với lý do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Căn cứ Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xét thấy chị L và anh T không còn sống chung với nhau, đờ i sống chung vợ chồng đa chẫ
́m dứ t, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thực hiện quyềnN vụ chung của vợ chồng. Anh T không đến Tòa án để hòa giải đoàn tụ, điều này chứng tỏ anh T không mong muốn vợ chồng được hàn gắn, đoàn tụ. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng giữa chị L và anh T đã có mâu thuẫn, khả năng đoàn tụ không có nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, giải quyết cho chị L được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung tên Đỗ Trọng N, sinh ngày 24/8/2012, hiện đang do chị L nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: CháuN có nguyện vọng được ở với mẹ. Qua tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ thể hiện từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháuN do một mình chị L chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Chị L có đủ điều kiện để tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tòa án đã triệu tập anh T đến làm việc để giải quyết việc nuôi con nhưng anh T không đến làm việc. Do đó, giao cháuN cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.
VềN vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm thời anh Tâm không phải thực hiệnN vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh T được quyền đi lại thăm nuôi con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, anh T và chị L được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con vàN vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000đ tiền án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xét Quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 18, 85, 89, 91, 92, 93, 94 của Luật hôn nhân gia đình năm 2000;
Áp dụng Điều 131 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Đỗ Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Trọng N, sinh ngày 24/8/2012cho chị Nguyễn Thị Kim L trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
VềN vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm thời anh T không phải thực hiệnN vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh T được quyền đi lại thăm nuôi con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, anh T và chị L được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con vàN vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị L đã nộp theo biên lai số 0003913 ngày 11/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ được trừ vào số tiền án phí chị L phải chịu. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Đỗ Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - UBND xã An Hòa; TP.Biên Hòa; - Lưu. | Trần Thị Viển |