vanban.org

Bản án 50/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 07/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thượng Đình B phạm tội: “trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 điều 173; Điều 50, Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Thượng Đình B 02 (hai) năm tù.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "173 - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thượng Đình B phạm tội: “trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật hình sự Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số 50/2022/HSST
Ngày 26 tháng 5 năm 2022

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

-------------------------------------

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THÀNH PHỐ ÑOÀNG XOAØI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn văn Được và ông Trịnh Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Cao Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2022/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/HSST – QĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thượng Đình B. Sinh năm 1990 tại Quảng Ngãi.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn Tây Hà 2, xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 7/12. Con ông: Thượng Đình Ca, sinh năm 1963 và bà: Bùi Thị Chánh, sinh năm 1964. Vợ: Mai Thị Bình, sinh năm 1988 và một con sinh năm 2016.

Tiền án: Ngày 11/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 04/3/2021 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Ngày 17/02/2020 bị Công an huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đồng Phú trong một vụ án khác. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người bị hại:

1/ Trương Đắc T, sinh năm 1985; trú tại: khu phố 1, thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quảng, tỉnh Bình Phước.

2/ Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; trú tại: khu phố Phú Thanh, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Phạm Thế B, sinh năm 1985; trú tại: Khu phố Phước Bình, phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

2/ Hoàng Thị S, sinh năm 1968; trú tại: Khu phố 5, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

3/ Vũ Văn H, sinh năm 1973; Ấp 3, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

4/ Nguyễn Xuân C, sinh năm 1981; trú tại: Khu phố Tân An, thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được xác định như sau:

Vào khoảng thời gian tháng 10/2021, Thượng Đình Bút đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Vào sáng ngày 21/10/2021, Thượng Đình B một mình điều khiển xe đạp điện hiệu ASAMA màu trắng – đen đi đến khu vực dự án Phú Hưng – Cát Tường thuộc ấp 3, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Đến nơi, Bút quan sát thấy trên đoạn đường N2 có một bồn chứa và chân đế gắn liền (đều bằng sắt), dung tích chứa khoảng 4,5m3, trọng lượng 390 kg, dài 2,3m, cao 1,2m của anh Trương Đắc Tuyên đặt ở bãi đất trống không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm bồn chứa này bán lấy tiền tiêu xài. Bút điều khiển xe đạp điện đi tìm chỗ thu mua, Bút đi đến cơ sở thu mua phế liệu do anh Phạm Thế Ba làm chủ tại khu phố Phước Bình, phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Tại đây, Bút giới thiệu là quản lý của công trình, đang cần thanh lý một bồn sắt. Nghe vậy, anh Ba đồng ý mua và đi theo B đến địa điểm để bồn sắt. Khi đến nơi, B chỉ vị trí đặt bồn sắt và bán cho anh B với giá 1.800.000 đồng. Nhận được tiền, Bút điều khiển xe đạp điện rời đi, còn anh B thuê xe ba gác cẩu (không rõ lai lịch người được thuê) chở bồn sắt nói trên về nhà. Sau đó, anh a đã bán chiếc bồn trên cho anh Vũ Văn H. Anh H sau khi mua bồn sắt trên đã bán lại cho anh Nguyễn Xuân C, sau khi mua anh Công để bồn sắt nói trên tại bãi phế liệu của anh C thuộc khu phố Bàu Ké, thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Hiện chiếc bồn trên đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú thu giữ (bút lục 37 – 40, 53 – 56, 69 – 78, 99 – 111).

Kết luận định giá số 24/KLĐG ngày 08/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Xoài, kết luận: 01 bồn chứa và chân đế bằng sắt, trọng lượng 390 kg, đã bị rỉ sét, đã qua sử dụng, trị giá 4.290.000 đồng (bút lục 48).

Vụ thứ hai:

Vào sáng ngày 25/10/2021, Thượng Đình B tiếp tục một mình điều khiển xe đạp điện hiệu ASAMA màu trắng – đen đi lòng vòng đến những khu vực có các công trình đang thi công trên địa bàn thành phố Đồng Xoài để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực đường Trường Chinh nối dài đang thi công đoạn thuộc khu phố Tân Trà, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Bút quan sát thấy có một bồn chứa bằng sắt, trọng lượng khoảng 01 tấn, dung tích chứa khoảng 06m3, cao 1,5m, rộng 2,2m, đường kính 02m của anh Nguyễn Văn Thuận đặt ở cuối đường, quan sát thấy không có người trông coi nên Bút nảy sinh ý định lấy trộm đem bán. Để thực hiện, Bút đã điều khiển xe đạp điện đi tìm thuê xe cẩu (không rõ lai lịch người được thuê) rồi chở chiếc bồn này đến bán cho chỗ thu mua phế liệu do bà Hoàng Thị Song làm chủ tại khu phố 5, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước với giá 9.500.000 đồng. Bà Song sau khi mua bồn đã bán lại cho anh Vũ Văn Hiển, mua được bồn anh Hiển đã dùng cần cẩu gắn trên xe tải biển số 93H – 013.85 đập biến dạng chiếc bồn và chở đến bán cho anh Nguyễn Xuân C. Sau khi mua được chiếc bồn, anh C đã cắt nhỏ chiếc bồn ra và bán cho người thu mua phế liệu (không rõ lai lịch) ở tỉnh Đồng Nai. Tài sản không thu hồi được (bút lục 43 – 46, 59 – 62, 65 – 68, 99 – 111).

Kết luận định giá số 24/KLĐG ngày 08/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Xoài, kết luận: 01 bồn chứa nước bằng sắt, trọng lượng khoảng 01 tấn tương đương với 1.000 kg, đã qua sử dụng, trị giá 11.000.000 đồng (bút lục 48).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình điều tra tạm giữ 01 bồn chứa và chân đế bằng sắt, trọng lượng 390 kg.

Ngày 04/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Trương Đắc T 01 bồn chứa và chân đế bằng sắt, trọng lượng 390 kg (bút lục 114).

Về dân sự: Anh Nguyễn Văn T yêu cầu B phải bồi thường số tiền 15.000.000 đồng (bút lục 45, 46). Anh Trương Đắc T đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu gì thêm (bút lục 39, 40).

Tại bản cáo trạng số 40/CT – VKS ngày 23 tháng 4 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố Thượng Đình B về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, tài sản đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước giữ nguyên bản cáo trạng số 40/CT – VKS ngày 23 tháng 4 năm 2022 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, lời trình bày của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thượng Đình B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số 40/CT – VKS ngày 23 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền – nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; kết luận giám định, vật chứng của vụ án đã thu giữ được cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 21/10/2021 bị cáo đã một mình trực tiếp lấy trộm của anh Trương Đắc Tuyên một bồn chứa và chân đế gắn liền (đều bằng sắt), dung tích chứa khoảng 4,5m3, trọng lượng 390 kg, dài 2,3m, cao 1,2m, trị giá 4.290.000 đồng; đến ngày 25/10/2021 bị cáo lại tiếp tục lấy trộm của anh Nguyễn Văn Thuận một bồn chứa bằng sắt, trọng lượng khoảng 01 tấn, dung tích chứa khoảng 06m3, cao 1,5m, rộng 2,2m, đường kính 02m, trị giá 11.000.000 đồng. vì vậy, bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật hình sự.

Về tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của anh Tuyên và anh Thuận; làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa mới của khu dân cư. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ khả năng nhận thức và biết rõ hành vi lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự, song để có tiền tiều xài một cách nhanh chóng bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của anh Tuyên vào ngày 21/10/2021 và của anh Thuận vào ngày 25/10/2021, do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 20 lần trở lên được quy định ở Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bản thân bị cáo đã từng bị Công an huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản” vào ngày 17/02/2020, không dừng lại ở đó, ngày 11/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 04/3/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù thì đến ngày 19 tháng 4 năm 2022 bị cáo lại bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xử phạt 01 năm 06 tháng tù cũng về tội “Trộm cắp tài sản” thể hiện bị cáo không ăn năn hối cải và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định ở điểm h Điều 52 của Bộ luật hình sự và do Bản án số 31/2022/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã có hiệu pháp luật nên cần áp dụng Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt để tiếp tục răn đe giáo dục bị cáo mà vẫn thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, hiện đang thi hành hình phạt tù nên không áp dụng đối với bị cáo.

Đối với anh Nguyễn Xuân C, bà Hoàng Thị S và anh Vũ Văn H là những người đã mua tài sản do bị cáo bút chiếm đoạt mà có nhưng không biết đó là tài sản bị cáo đã lấy trộm nên không đặt vấn đề xử lý trong vụ án này.

Về dân sự: Anh Trương Đắc T đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không giải quyết. Anh Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 15.000.000đồng (bút lục 45, 46) tuy nhiên trị giá tài sản anh T bị mất đã được định giá có giá trị là 11.000.000 đồng, do vậy, căn cứ vào các quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Thuận trị gía tài sản đã chiếm đoạt là 11.000.000đồng.

Vật chứng của vụ án: 01 bồn chứa và chân đế bằng sắt, trọng lượng 390 kg đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài xử lý trả lại cho anh Trương Đắc Tuyên vào ngày 04/4/2022 (bút lục 114) nên HĐXX không giải quyết lại.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thượng Đình B phạm tội: “trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 điều 173; Điều 50, Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Thượng Đình B 02 (hai) năm tù.

Áp dụng Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự:

Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2021 tại Bản án số 31/2022/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

Hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2021

3. Về dân sự: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự: Các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Thượng Đình B phải bồi thường cho anh Thuận trị giá tài sản đã chiếm đoạt là 11.000.000đồng (mười một triệu đồng)

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 550.000đồng (Năm trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại anh T và anh T Dược quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ