vanban.org

Bản án 50/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 07/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bi ̣ cáo Đặng Thị Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Đặng Thị Ngọc B 01 (Một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị Ngọc B "trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bi ̣ cáo Đặng Thị Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH L
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HS-ST
Ngày 07 – 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hằng Nga.

Bà Lê Thị Kim Uyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Trọn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2022/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

- Đặng Thị Ngọc B, sinh năm 1984;

Nơi cư trú: Số 12, đường B, khu phố X, Phường Y, thị xã K, tỉnh L; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Ngọc T và bà Nguyễn Thị B. Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại điều tra (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Võ Thụy Hồng P, sinh năm 1977; Hộ khẩu thường trú: Số 62/13, Khóm 1, Phường Z, thành phố C, tỉnh CM; Tạm trú: Phòng số 01, nhà trọ số 14, đường Phan Văn Lại, Phường 6, thành phố T, tỉnh L (Có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trương Thị B, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số 64, ấp M, xã Y, thị xã K, tỉnh L (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 15/3/2022, bi ̣ cáo Đă ̣ng Thi ̣ Ngo ̣c B đang ở tro ̣ cùng Trương Thi ̣ Bé ta ̣i phòng tro ̣ số 8 nhà tro ̣ số 14, đường Phan Văn La ̣i, Phườ ng 6, thành phố T, tỉnh L. Lú c này bi ̣ cáo Bich nói vớ i Bé se vã ̀o phòng số 1 cùng nhà tro ̣ với B để trô ̣m

́ cắp tài sản củ a chi ̣ Võ Thu ̣y Hồng P, do bị cáo cần tiền để trả nợ nhưng chị Bé không đồng ý và can ngăn bị cáo. Đến khoảng 02 giờ 40 phú t ngày 16/3/2022, bi ̣ cáo cùng chị Bé đi làm như mo ̣i ngày, khi đi ngang phòng tro ̣ củ a chi ̣ Phượng bi ̣ cáo nhin thấy

̀ cửa phòng đa đõ ́ng nên biết chi ̣ Phượng đa đi lã

̀m. Bi ̣ cáo nói vớ i chị Bé hôm nay đi làm mô ̣t minh đi, bi ̣ cáo bi ̣ bê ̣nh nên không đi làm được. Do biết nhà tro ̣ có Camera

̀ giám sát nên bị cáo leo lên ghế và dùng tay đẩy Camera ra hướ ng khác. Sau đó bi ̣ cáo đến chỗ cất giấu chia khóa phòng tro ̣ củ a chi ̣ Phượng để lấy chia khóa mở cử a phòng

̀

̀ (Do trướ c đó có nhiều lần qua chơi nên bi ̣ cáo biết được chi ̣ Phượng giấu chia khóa ở

̀ đâu). Sau khi vào phòng bị cáo leo lên gác tim tài sản để lấy trộm thi phát hiê ̣n dướ i

̀

̀ nê ̣m ngủ có mô ̣t túi nylon màu đen, mở ra bên trong có mô ̣t hô ̣p đựng nhiều loa ̣i vàng trang sứ c gồm: 01 bô ̣ vòng ximen đeo tay 14 chiếc, 01 lắc đeo tay, 01 dây chuyền vàng, 01 nhẫn vàng, tất cả đều là vàng 18k, bi ̣ cáo lấy tài sản cất giấu vào trong ngườ i, lấy hô ̣p đựng trang sứ c rỗng đóng la ̣i để vào chỗ cũ và đóng cử a phòng khóa la ̣i như ban đầu. Khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, bi ̣ cáo mượn xe mô tô biển số 62N1-6753 củ a chị Bé cha ̣y đến tiê ̣m vàng Kim Quý do bà Nguyễn Thi ̣ Hiền, sinh năm 1970, ta ̣i xa Phũ

́ My, huyện Thũ

̉ Thừ a, tỉnh L làm chủ và bán số vàng trên được 37.200.000đ. Sau đó bi ̣ cáo điều khiển xe cha ̣y về thị xã Kiến Tườ ng trả nợ cho mô ̣t ngườ i tên Hòa không rõ nhân thân, lai li ̣ch số tiền 25.000.000 đồng, trả nợ cho ngườ i tên Hù ng không rõ nhân thân, lai li ̣ch số tiền 5.000.000 đồng. Đến ngày 18/3/2022, bi ̣ cáo cho ông Đă ̣ng Ngo ̣c Sang số tiền 3.000.000đ, số tiền còn la ̣i bi ̣ cáo tiêu xài cá nhân. Đến ngày 30/3/2022, chi ̣ Phượng phát hiê ̣n tài sản nêu trên bi ̣ mất nên trinh báo

̀ Công an Phườ ng 6. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.

Tang vật bị thu giữ: 01 xe mô tô biển số 62N1-6753.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 07/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 bô ̣ vòng ximen đeo tay 14 chiếc tro ̣ng lượng 8,2 chỉ vàng 18k có giá tri ̣ 26.513.000đ; 01 lắc đeo tay tro ̣ng lượng 3,5 chỉ vàng 18k có giá tri ̣ 11.316.000đ; 01 dây chuyền 2 chỉ vàng 18k có giá tri ̣ 6.466.000đ; 01 nhẫn tro ̣ng lượng 0,7 chỉ vàng 18k có giá tri ̣ 2.263.000đ. Tổng giá trị của tài sản bi ̣ trô ̣m cắp là 46.558.000đ.

Cáo trạng số 53/CT-VKSTA-HS ngày 17/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Đặng Thị Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đặng Thị Ngọc B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận định giá, đồng thời không có khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiền hành tố tụng.

Bị hại Võ Thụy Hồng P trình bày: Bị cáo Đặng Thị Ngọc B đã bồi thường cho bà số tiền 53.000.000đ, bà không có ý kiến hay yêu cầu gì. Bà đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đa trao trã

̉ 01 xe mô tô biển số 62N1-6753 cho chị Trương Thi ̣ Bé.

Về trách nhiệm dân sự: Bi ̣ ha ̣i Võ Thu ̣y Hồng Phượng đề nghi ̣ bi ̣ cáo bồi thườ ng giá tri ̣ tài sản bi ̣ mất trô ̣m bằng số tiền 53.000.000 đồng. Hiê ̣n nay bi ̣ cáo đa bỗ ̀i thườ ng đầy đủ số tiền trên theo yêu cầu của bi ̣ ha ̣i.

Buộc bị cáo Đặng Thị Ngọc B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trương Thị B vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản sự viê ̣c, biên bản khám nghiê ̣m hiê ̣n trườ ng, bản ảnh hiê ̣n trườ ng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 02 giờ 40 phút, ngày 16/3/2022, tại phòng tro ̣ số 1 nhà tro ̣ số 14, đườ ng Phan Văn La ̣i, Phườ ng 6, thành phố T, tỉnh L, bị cáo Đă ̣ng Thi ̣ Ngo ̣c B đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 bô ̣ vòng ximen đeo tay 14 chiếc tro ̣ng lượng 8,2 chỉ vàng 18k; 01 lắc đeo tay tro ̣ng lượng 3,5 chỉ vàng 18k; 01 dây chuyền 02 chỉ vàng 18k; 01 nhẫn tro ̣ng lượng 0,7 chỉ vàng 18k thuộc sở hữu của chi ̣ Võ Thu ̣y Hồng Phượng với tổng giá trị tài sản là 46.558.000đ. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì tham lam, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sự sơ hở bất cẩn của người khác để chiếm đoạt tài sản. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i; bị cáo pha ̣m tô ̣i lần đầu thuô ̣c trườ ng hợp it nghiêm tro ̣ng đây là các

́ tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra, bi ̣ ha ̣i có đơn bãi nại xin miễn trách nhiê ̣m hinh sự cho bị cáo và gia đình bị

̀ cáo thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đa trao trã

̉ 01 xe mô tô biển số 62N1-6753 cho chị Trương Thi ̣ Bé là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Trách nhiệm dân sự: Bi ̣ ha ̣i Võ Thu ̣y Hồng Phượng đề nghi ̣ bi ̣ cáo bồi thườ ng giá tri ̣ tài sản bi ̣ mất trô ̣m bằng số tiền 53.000.000đ và bi ̣ cáo đa bỗ ̀i thườ ng đầy đủ số tiền trên theo yêu cầu của bi ̣ ha ̣i. Ngoài ra, bi ̣ ha ̣i không có yêu cầu gi khác nên Hội

̀ đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với chị Trương Thị B xác định vào ngày 15/3/2022 có nghe bị cáo nói sẽ vào phòng chị P để trộm cắp tài sản nhưng chị Bé đã không đồng ý và căn ngăn bị cáo. Đến ngày 16/3/2022, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị Bé không biết và cũng không cùng thực hiện nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự.

Đối với 02 người tên Hòa và Hùng nhận tiền do bị cáo trả nợ, hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Đối với ông Đặng Ngọc Sang được bị cáo cho số tiền 3.000.000đ nhưng không biết số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự là phụ hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chi ̣u án phi hinh sự sơ thẩm theo quy định.

́ ̀

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bi ̣ cáo Đặng Thị Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Đặng Thị Ngọc B 01 (Một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Đặng Thị Ngọc B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ