vanban.org

Bản án 50/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 06/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Trung D 20.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. [2] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đ phạm tôi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông - phạm tội giao cho người không đủ điều kiện…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HS-ST
Ngày: 06-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chiến

2. Ông Hoàng Văn Tấn

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Tuyên- Thư ký Toà án nhân dân huyện Việt Yên.

- Đại D Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Công - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2022/TLST- HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Hoàng Trung D, sinh năm 1998; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Đồi Chinh, xã D Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hoàng Minh Chính; Con bà: Nông Thị Học; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Bị hại: Anh Phan Văn D, sinh năm 1993 (đã chết)

Nơi cư trú: Thôn Trung Tâm, xã D Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại D theo ủy quyền của bị hại: Ông Phan Văn T, sinh năm 1967 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Trung Tâm, xã D Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Phương N, sinh năm 1998 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đồi Chinh, xã D Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 22/9/2021, anh Phan Văn D cùng Hoàng Trung D và anh Nguyễn Phương N đến uống rượu tại quán “Diệp Anh Quán” ở tổ dân phố My Điền 2, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 23 giờ 50 cùng ngày thì cả ba dừng uống rượu để đi về. Lúc này, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade, biển kiểm soát 20F1- 573.31 của mình chở anh D ngồi phía sau, N điều khiển xe mô tô đi một mình cùng nhau đi theo đường gom dân sinh cạnh đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang xuống xã Quang Châu để uống nước. Cả ba đi xe mô tô được khoảng 10 phút, đến đoạn đường ở địa phận thôn Vân Cốc 4, xã Vân Trung, huyện Việt Yên thì anh D bảo D đưa xe mô tô để anh D điều khiển xe chở D đi thì D đồng ý rồi giao xe mô tô của mình cho anh D. Sau đó, anh D điều khiển xe mô tô của D, chở D ngồi sau xe cùng N đến xã Quang Châu tìm quán nước để uống nước. Khi cả ba đi xe đến xã Quang Châu nhưng không thấy quán nước nào mở cửa nên cả ba bảo nhau đi xe về nhà trọ ở thôn Vân Cốc 2, xã Vân Trung để ngủ. Anh D tiếp tục điều khiển xe mô tô của D chở theo D ngồi sau đi ngược lại theo đường cũ để về. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 23/9/2021, anh D điều khiển xe mô tô Honda Ablade, biển kiểm soát 20F1- 573.31 chở D ngồi sau đi vào đường Quốc lộ 37 hướng từ Cầu vượt Đình Trám đi thôn Vân Cốc 2, xã Vân Trung, thuộc địa phận tổ dân phố Hoàng Mai 3, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, do không làm chủ tay lái và tốc độ, anh D để xe mô tô đâm vào dải phân cách cứng giữa đường, làm xe mô tô đổ, D và anh D ngã văng xuống đường. Sau khi bị ngã, anh D đập đầu vào tấm bê tông cạnh dải phân cách cứng giữa đường rồi đập xuống mặt đường làm vỡ xương hộp sọ vùng trán, gãy xương hàm, xương cung răng, gãy xương đòn phải nên chết tại chỗ, còn D bị thương được đưa đi điều trị thương tích tại bệnh viện đa khoa huyện Việt Yên với thương tích chấn động não, gãy xương gò má và xương hàm trái. Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn. Trong quá trình khám nghiệm, Cơ quan điều tra đã ghi nhận các dấu vết, thu giữ xe mô tô, mẫu máu của anh D và bị cáo D để phục vụ điều tra.

Tại phiếu xét nghiệm hóa sinh máu, ngày 23/9/2021 của Trung tâm y tế huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, kết luận: Trong máu của anh D và D đều có định lượng Ethanol, trong đó của anh D 226,3 mg/dl, D 23,4 mg/dl.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1646 ngày 18/10/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận nguyên nhân chết của anh Phan Văn D: Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, gãy xương đòn phải. Thời gian chết của Phan Văn D đến lúc khám nghiệm tử thi khoảng 02-03 tiếng. Các tổn thương sây sát, bầm tím, rách da trên cơ thể Phan Văn D được hình thành do tiếp xúc với vật tày, bề mặt không nhẵn tác động theo nhiều chiều hướng. Tổn thương gãy, vỡ phức tạp xương hình thành với lực tác động mạnh tạo nên.

Ngày 15/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định, xác định chiều hướng chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 20F1- 573.31 khi xảy ra tai nạn và có va chạm với phương tiện giao thông khác không. Xác định cơ chế hình thành dấu vết xe mô tô biển kiểm soát 20F1- 573.31 trên mặt đường, chiều hướng dấu vết. Xác định tốc độ của xe mô tô khi xảy ra sự việc.

Tại bản kết luận giám định số 1826 ngày 16/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 20F1- 573.31 với phương tiện khác; dấu vết rách, vỡ chùn cong, trượt xước cao su, kim loại dính bột đá lăn lốp bánh trước, vành bánh trước, đĩa phanh bánh trước của xe mô tô được hình thành do va chạm với bề mặt tày, cứng (như khối bê tông) tạo nên (phù hợp với dấu vết vỡ khuyết bê tông trên tấm bê tông giải phân cách). Dấu vết chùn cong, trượt xước cao su, sơn, nhựa, kim loại bên trái xe mô tô được hình thành do quá trình xe đổ nghiêng bên trái trên mặt đường đồng thời vị trí tiếp xúc, rê trượt trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước trên mặt đường. Khi xảy ra tai nạn xe mô tô chuyển động rê trượt hướng cầu vượt Đình Trám -Vân Cốc 2. Không xác định được vận tốc xe mô tô tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Trong các ngày 25/9/2021, 26/9/2021, 01/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên đã thu giữ được tại camera an ninh của quán “Diệp Anh Quán” và ở nhà anh Dương Ngô Hiếu, sinh năm 1984, ở thôn Vân Cốc 4, xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, tại Camera an ninh của Công an thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên lắp ở đường gom cao tốc thuộc địa phận tổ dân phố My Điền và Hoàng Mai hình ảnh camera ghi lại bị cáo D uống rượu cùng anh D, N rồi anh D điều khiển xe mô tô chở bị cáo D sau đó xảy ra tai nạn.

Ngày 20/10/2021 và 15/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên đã cho bị cáo D, anh N xem lại hình ảnh camera an ninh đã thu giữ nêu trên. Kết quả: Bị cáo D, anh N đều xác nhận người trong hình ảnh camera là anh N, anh D cùng D đang uống rượu tại quán “Diệp Anh Quán” và hình ảnh anh D điều khiển xe mô tô của D đèo D ngồi sau xe rồi xảy ra tai nạn.

Đối với việc bị cáo D bị thương tích trong vụ tai nạn, do anh D đã chết và D từ chối giám định thương tích nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 05/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo D về tội “Giao cho người không đủ điều kiện phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa hôm nay, Đại D Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoảng Trung D từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước về tội “ Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D.

Về vật chứng, án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà hôm nay, bị cáo D đã khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Đại D Viện kiểm sát.

Đại D hợp pháp của bị hại có ý kiến không có yêu cầu bồi thường gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D và không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại D Viện kiểm sát.

Bị cáo D nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã biết việc làm của mình là sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Trung D tại phiên tòa hôm nay phù hợp lời khai đại D hợp pháp của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 23/9/2021, tại đoạn đường giao thông thuộc địa phận thôn Vân Cốc 4, xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Hoàng Trung D là chủ sở hữu chiếc xe mô tô Honda Ablade, biển kiểm soát 20F1- 573.31, mặc dù biết anh Phan Văn D vừa uống rượu trước đó, không đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô tham gia giao thông nhưng D vẫn giao xe mô tô cho anh D chở D ngồi sau đi chơi (vi phạm quy định tại khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ). Sau đó, anh D điều khiển xe mô tô D đưa cho chở D đi vào đường Quốc lộ 37 hướng từ cầu vượt Đình Trám đi thôn Vân Cốc 2, xã Vân Trung, thuộc địa phận tổ dân phố Hoàng Mai 3, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, do không làm chủ tay lái và tốc độ, anh D đã để xe mô tô đâm vào dải phân cách cứng giữa đường, hậu quả anh D chết tại chỗ.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo D theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an T giao thông, gây thiệt hại tính mạng của người khác. Tuy nhiên, xét hậu quả xảy ra là do lỗi vô ý, hậu quả không phải do bị cáo trực tiếp gây ra. Do đó, khi lượng hình cũng cần xem xét yếu tố này để cân nhắc, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Hoàng Trung D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại D gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo D không có.

Với tính chất của hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi bị cáo gây ra cùng với tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như nêu trên, bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại, tại phiên tòa đại D bị hại tha thiết xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an T xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo D sau khi phạm tội không có nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hình phạt chính của bị cáo là phạt tiền nên xét thấy không cần thiết phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo D đã bồi thường gia đình anh Phan Văn D do ông Phan Văn T là người đại điện theo ủy quyền của gia đình nhận tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Qus trình điều tra ông T thay mặt gia đình không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa ông T có mặt trình bày không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra xác định xe mô tô Honda Ablade, biển kiểm soát 20F1-573.31 là tài sản của bị cáo D. tại phiên tòa bị cáo xin lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo. Nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại D hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Hoàng Trung D 20.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo Hoàng Trung D: 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade, biển kiểm soát 20F1- 573.31. Nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Hoàng Trung D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo; Người đại D hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

- Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;

- VKSND huyện Việt Yên;

- Công an huyện Việt Yên;

- Chi cục THADS huyện Việt Yên;

- Bị cáo; NĐDHP của bị hại;

Nguyễn Thị Vân

- Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Vân

Cỡ chữ