vanban.org

Bản án 50/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Tuyên án 01/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang M phạm: “Tội trộm cắp tài sản”.

[2] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Quang M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. [3] Về xử lý vật chứn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quang M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang M phạm: “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 50/2022/HS-ST
Ngày 01 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Cảnh.

Bà Trần Ngọc Diệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Quang M sinh ngày 20/7/2002 tại tỉnh B.

Tên gọi khác: không;

Nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh B; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh P, sinh năm 1980 và bà Lê Nhân Dung Ngôn Thúy Công H, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; Tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2021/HS-ST ngày 22/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xử phạt Huỳnh Quang M 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/5/2022; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/8/2022 cho đến nay. (có mặt)

* Bị hại:

1/ Ông Ngô Thu M1, sinh năm 1971. Nơi cư trú: ấp L, xã Lư, huyện G, tỉnh B. (vắng mặt có lý do)

2/ Ông Thái Ngọc T, sinh năm 1960. Nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh B. (vắng mặt có lý do)

Trang 1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Quang M là người có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 05/5/2022, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, cụ thể: do cần tiền tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ ngày 17/6/2022 đến ngày 16/7/2022, Huỳnh Quang M đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Lư và xã L, huyện G, tỉnh B 02 lần. Cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: khoảng 07 giờ 00 phút ngày 17/6/2022, Huỳnh Quang M đi bộ từ nhà ở ấp H, xã L, huyện G, tỉnh B đến xã B, huyện G. Trên đường đi, M nhìn thấy ở ven đường bên phải theo hướng đi của M có 01 cái bao màu xanh, M nhặt cái bao này với ý định đi tìm hái trộm bưởi đem bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến khu vực ở ấp L, xã Lư, huyện G, inh phát hiện nhà ông Ngô Thu M1, sinh năm 1971, không có người trông coi, bên trong sân có trồng bưởi da xanh. Cổng rào đã khóa, hàng rào bằng lưới B40 thấp nên M bước qua hàng rào lưới B40 vào sân nhà ông Thu M1. M đến cây bưởi thứ nhất hái 02 trái bưởi bỏ vào bao rồi tiếp tục đến cây bưởi thứ hai hái 02 trái bưởi bỏ vào bao, tổng cộng 04 trái bưởi. M vác bao đựng 04 trái bưởi rời khỏi nhà ông Thu M1 theo chiều ngược lại của đoạn đường lúc M đến, rồi đi ra Đường tỉnh 885 để đến chợ L, huyện G bán số bưởi vừa trộm được. Khi đến cầu L thuộc ấp L, xã Lư, huyện G, M bị Công an xã Lư yêu cầu kiểm tra do M có biểu hiện nghi vấn. M khai nhận với Công an xã về hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.

Vật chứng tạm giữ từ Huỳnh Quang M:

- 04 trái bưới da xanh, không có cuống, tổng trọng lượng 5,7 kg, gồm: 01 trái trọng lượng 1,9 kg, 02 trái trọng lượng 1,4 kg/trái, 01 trái trọng lượng 01 kg.

- 01 cái bao màu xanh, dài 60cm, rộng 35cm.

- 01 áo sơ mi dài tay, bằng vải màu xanh - xám, nhãn hiệu “TK WASHUAI”, size XL; 01 quần ngắn lưng thun, bằng vải màu đỏ, có họa tiết màu đen và dòng chữ “Vũng Tàu tour” là trang phục M mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Hiện trường vụ án xảy ra tại nhà ông Ngô Thu M1 ở ấp Lương Thuận, xã Lư, huyện G, tỉnh B. Vị trí cây bưởi thứ nhất bị hái trộm cách góc Đông Bắc nhà trước ông M1 6,7m; vị trí cây bưởi thứ hai bị hái trộm cách cây bưởi thứ nhất về hướng Bắc 11,2m.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 29/7/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Giồng Trôm, kết luận vào thời điểm bị chiếm đoạt (ngày 17/6/2022), tài sản có giá trị như sau:

04 trái bưởi da xanh có tổng trọng lượng 5,7 kg, không có cuống. Trong đó:

- Trái số 01 có trọng lượng 1,9 kg; trái số 04 có trọng lượng 01 kg, có tổng trọng lượng 2,9 kg, giá 28.000 đồng/kg, thành tiền: 2,9 x 28.000 = 81.200 đồng.

- Trái số 02 có trọng lượng 1,4 kg; trái số 03 có trọng lượng 1,4 kg, có tổng trọng lượng 2,8 kg, giá 38.000 đồng/kg, thành tiền: 2,8 x 38.000 = 106.400 đồng.

Tổng cộng: 187.600 đồng.

Trang 2

- Vụ thứ hai: khoảng 14 giờ 40 phút ngày 16/7/2022, Huỳnh Quang M điều khiển xe đạp từ tiệm Internet Tấn Lộc ở ấp H, xã L, huyện G, tỉnh B về nhà của M ở ấp H, xã L, huyện G, khi đến khu vực Tổ nhân dân tự quản số A, ấp H, xã L, M phát hiện vườn buởi da xanh của ông Thái Ngọc Th, sinh năm 1960, không có người trông coi nên nảy sinh ý định hái trộm bưởi đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. M dừng xe đạp cạnh hàng rào lưới B40 rồi vào vườn bưởi qua khoảng trống của hàng rào. M đến một cây bưởi ở bờ thứ nhất hái 03 trái bưởi và để trái tại gốc bưởi. M tiếp tục đến một cây bưởi ở bờ thứ ba hái 04 trái bưởi, tổng cộng 07 trái bưởi. M lấy 01 cái bao màu xanh - trắng có sẵn ở vườn bưởi đựng 07 trái bưởi vừa trộm được mang ra khỏi vườn bưởi của ông Th, rồi điều khiển xe đạp chở bao đựng bưởi vừa trộm được đi về hướng chợ Lư, huyện G để bán. Khi đến khu vực Tổ nhân dân tự quán số b thuộc ấp Q, xã Lư, huyện G, tỉnh B, M bị Công an xã Lư phát hiện và chuyển giao vụ việc cho Công an xã L xử lý.

- Vật chứng tạm giữ từ Huỳnh Quang M:

+ 07 trái bưởi da xanh, không có cuống, tổng trọng lượng 9,6 kg, gồm: 01 trái trọng lượng 1,1 kg, 01 trái trọng lượng 1,2 kg, 02 trái trọng lượng 1,3 kg/trái, 02 trái trọng lượng 1,5 kg/trái, 01 trái trọng lượng 1,7 kg.

+ 01 cái bao màu xanh - trắng, bên ngoài có dòng chữ “GẠO ĐẶC SẢN SARI”.

+ 01 xe đạp nhãn hiệu Martin @, màu xanh lá, phía trước xe có gắn rổ bằng nhựa màu xanh.

+ 01 áo sơ mi tay dài, màu trắng - đen, áo có in nhiều dòng chữ “Versace”; 01 áo thun cổ tròn, tay ngắn, màu đen, trên ngực áo bên trái có in dòng chữ “Calvin Klein STYLE MEN”; 01 quần ngắn bằng vải thun, màu đen, phía ngoài hai bên ống quần có sọc màu xám, phía trước bên dưới ống quần bên phải có in dòng chữ “DG DONO GUCIO”, là trang phục M mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Hiện trường vụ án xảy ra tại khu đất vườn của ông Thái Ngọc Th ở ấp H, xã L, huyện G, tỉnh B. Khu vườn gồm ba bờ đất song song với nhau; vị trí cây bưởi thứ nhất bị hái trộm 03 trái bưởi là ở bờ đất thứ nhất; vị trí cây bưởi thứ hai bị hái trộm 04 trái bưởi là ở bờ đất thứ ba; hai cây bưởi này cách nhau 14,5m. Vị trí M lấy cái bao là ở bờ đất thứ ba.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG ngày 29/7/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Giồng Trôm, kết luận vào thời điểm bị chiếm đoạt (ngày 16/7/2022), tài sản có giá trị như sau :

- 01 bao tải bằng nhựa màu xanh - trắng, bên ngoài có in dòng chữ “GẠO ĐẶC SẢN SARI”, đã qua sử dụng, giá 500 đồng.

- 01 trái bưởi da xanh có trọng lượng 1,2 kg; 01 trái bưởi da xanh có trọng lượng 1,3 kg; 01 trái bưởi da xanh có trọng lượng 1,1 kg; 01 trái bưởi da xanh có trọng lượng 1,3 kg. Tổng trọng lượng 4,9 kg, giá 30.000 đồng/kg, thành tiền: 4,9 x 30.000 = 147.000 đồng.

- 01 trái bưởi da xanh có trọng lượng 1,7 kg; 01 trái bưởi da xanh có trọng lượng 1,5 kg; 01 trái bưởi da xanh có trọng lượng 1,5 kg. Tổng trọng lượng 4,7 kg, giá 40.000 đồng/kg, thành tiền: 4,7 x 40.000 = 188.000 đồng.

Trang 3

Tổng cộng: 335.500 đồng.

Bản cáo trạng số: 47/CT-VKSGT, ngày 12/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố Huỳnh Quang M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang M phạm: “Tội trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Quang M từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay, bằng vải màu xanh - xám; 01 quần ngắn lưng thun, bằng vải màu đỏ, có họa tiết màu đen; 01 áo sơ mi tay dài, màu trắng - đen; 01 áo thun cổ tròn, tay ngắn, màu đen; 01 quần ngắn bằng vải thun, màu đen, phía ngoài hai bên ống quần có sọc màu xám do đây là quần, áo bị cáo M mặc khi thực hiện hành vi phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng; 01 cái bao màu xanh, dài 60cm, rộng 35cm không rõ chủ sở hữu, không còn giá trị sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác nên không xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về phụ giúp gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Giồng Trôm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị hại vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra những người này đã có lời khai rõ ràng và không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên sự vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trang 4

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Quang M thừa nhận vào ngày 17/6/2022 bị cáo thấy nhà của ông Ngô Thu M1 không người trông coi nên đã lén lút đột nhập vào vườn nhà ông M để hái trộm 04 trái bưởi da xanh, không cuống, có tổng trọng lượng 5,7 ký với tổng giá trị là 187.600 đồng. Đến ngày 16/7/2022 bị cáo tiếp tục lén lút đột nhập vào vườn bưởi của ông Thái Ngọc Th để hái trộm 07 trái bưởi da xanh, không cuống, có tổng trọng lượng 9,6 ký và 01 bao tải bằng nhựa màu xanh - trắng bên ngoài có in dòng chữ "GẠO ĐẶC SẢN SARI" với tổng giá trị tài sản 335.500 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Huỳnh Quang M qua 02 lần chiếm đoạt là 523.100 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong quá trình điều tra cũng như biên bản sự việc, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại có giá trị chưa đến 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Như vậy có cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Huỳnh Quang M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

............

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”;

............

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm truy tố bị cáo với tội danh, điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan cho bị cáo. Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là có đủ cơ sở nên được chấp nhận.

Bị cáo Huỳnh Quang M là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị xử lý. Nhưng xuất phát từ bản tính tham lam, lười biếng lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại nhằm bán cho người khác để có tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội; gây tâm lý bất an, lo lắng trong nhân dân vì phải thường xuyên đề cao cảnh giác. Vì vậy, đối với hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Về nhân thân của bị cáo: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2021/HS-ST ngày 22/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, xử phạt đối với Huỳnh Quang M 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngoài ra ngày 08/7/2020, bị Công an xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số

Trang 5

04/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, số tiền phạt 750.000 đồng; ngày 11/6/2021, bị Công an huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 57/QQD-XPHC về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, số tiền phạt 3.500.000 đồng nên bị cáo được xem là có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo không còn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào khác.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Huỳnh Quang M thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; các bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ của vụ án: Qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo Huỳnh Quang M Hội đồng xét xử thấy rằng tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng xét về mặt ý thức thì bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nhưng không biết ăn năn hối cải, không có ý thức tự cải tạo, khắc phục sai lầm, tiếp tục phạm tội, rõ ràng bị cáo đã xem thường pháp luật, không tôn trọng quyền sở hữu về tài sản của công dân. Cho nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định nhằm để trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại ông Ngô Thu M1 04 trái bưởi da xanh; trả lại bị hại Thái Ngọc Th 07 trái bưởi da xanh và 01 bao tải bằng nhựa màu xanh - trắng.

Đối với 01 áo sơ mi dài tay, bằng vải màu xanh - xám; 01 quần ngắn lưng thun, bằng vải màu đỏ, có họa tiết màu đen; 01 áo sơ mi tay dài, màu trắng - đen; 01 áo thun cổ tròn, tay ngắn, màu đen; 01 quần ngắn bằng vải thun, màu đen, phía ngoài hai bên ống quần có sọc màu xám do đây là quần, áo bị cáo M mặc khi thực hiện hành vi phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 cái bao màu xanh, dài 60cm, rộng 35cm không rõ chủ sở hữu, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Ngô Thu M1 đã nhận lại 04 trái bưởi da xanh; ông Thái Ngọc Th đã nhận lại 07 trái bưởi da xanh và 01 bao tải bằng nhựa màu xanh - trắng. Ngoài ra ông M1, ông Th không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Quang M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang M phạm: “Tội trộm cắp tài sản”.

Trang 6

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Phạt: Huỳnh Quang M 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2022.

[2] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Quang M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cái áo sơ mi dài tay, bằng vải màu xanh - xám; 01 quần ngắn lưng thun, bằng vải màu đỏ, có họa tiết màu đen; 01 áo sơ mi tay dài, màu trắng-đen; 01 áo thun cổ tròn, tay ngắn, màu đen; 01 quần ngắn bằng vải thun, màu đen, phía ngoài hai bên ống quần có sọc màu xám; 01 cái bao màu xanh, dài 60cm, rộng 35cm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

[4] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ