vanban.org

Bản án 50/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lƣơng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Văn T 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lƣơng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HS -ST
Ngày 29 – 9 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

[

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lộc Văn Việt, ông Kha Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2022/TLST - HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Lƣơng Văn T – Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 3 năm 1996 tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Y T, xã L D, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: lớp 00/12(không biết chữ); Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lương Văn C, sinh năm 1968 và bà La Thị B, sinh năm 1965; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Lô Văn Đ - sinh năm 1977 – Vắng mặt.

Trú tại: Bản T H, xã Y K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn R, sinh năm 1960 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Khối 6 thị trấn C C, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 21/6/2022, Lương Văn T sau khi uống rượu tại nhà anh Lô Văn D, sinh năm 1960, trú tại bản T H, xã Y K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An rồi đi bộ về nhà. Khi đi qua trước cồng nhà nhà anh Lê Văn Đ, T nhìn thấy nhà anh Đ đã tắt điện đi ngủ và có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám xanh, mang biển kiểm soát 37C1 – 159.76 đang dựng ở sân nên T đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T đi vào trong sân nhà anh Đ và quan sát chiếc xe không có chìa khóa cắm ở ổ khóa nên T đã đẩy chiếc xe ra khỏi cổng và đi theo hướng từ bản T Hra thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông. Khi T dắt xe đến bản T T, xã Y K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An thì T dừng lại ngủ bên đường. Đến khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày 21/6/2022, T tiếp tục dắt xe đi, được một lúc thì T gặp một người đàn ông làm nghề xe lai không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu đi đến và hỏi T “Có cần giúp đỡ gì không” thì T đã nhờ người xe lai dùng dây thừng buộc vào chiếc xe mà T trộm cắp được và kéo ra thị trấn Con Cuông. Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, T và người đàn ông xe lai đưa xe đến nhà anh Nguyễn Văn R, sinh năm 1960, trú tại khối 6, thị trấn C C, huyện Con Cuông để cắt khóa xe. Đến nơi, người đàn ông xe lai yêu cầu T trả tiền công kéo xe là 100.000 đồng nhưng T chỉ có 70.000đ. Người đàn ông đi xe lai đồng ý cầm tiền và đi về, còn Lương Văn T đưa xe đến nhờ ông R để cắt ổ khóa xe . Do không có tiền nên ông R không cắt khóa xe cho T nên T để chiếc xe trộm được tại nhà của ông R rồi đi bộ về nhà của mình.

Sáng ngày 21/6/2022, anh Lô Văn Đ có đơn trình báo đến Công an xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An về việc ngày 21/6/2022, gia đình anh bị mất một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu bạc xám xanh mang biển kiểm soát 37C1-159.76.

Cùng ngày 21/6/2022, Công an xã Yên Khê , huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đến nhà ông R xác minh, xác định chiếc xe đó là do T lấy trộm của anh Đ. Công an xã Yên Khê tiến hành lập biên bản tạm giữ và đưa chiếc xe về trụ sở để làm rõ vụ việc. Ngày 22/6/2022 Công an xã Yên Khê đã bàn giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 23/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông ra văn bản yêu cầu định giá tài sản là 01 chiếc xe mô tô do Thân trộm cắp. Tại bản kết luận định giá số 12/KL – HĐĐGTSTTHS ngày 24/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Con Cuông kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại xe SIRIUS, màu sơn: Xám xanh; Số máy E3T6B383198, số khung 1710JY260700, mang biển kiểm soát 37C1 - 159.76, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm bị mất trộm có giá là: 13.000.000 đồng.

Cáo trạng số: 50/CT - VKS - CC ngày 09/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo LươngVăn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lương Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung. Về dân sự người bị hại không có yêu cầu nên miễn xét, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về nội dung: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 21/6/2022, tại bản nhà của anh Lô Văn Đ ở bản T H, xã Y K huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, Lương Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại xe SIRIUS, mang biển kiểm soát 37C1 - 159.76 của anh Lô Văn Đ. Chiếc xe có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 13.000.000đồng.

Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo:

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thười gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Tuy nhiện xét bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Văn R, là người T nhờ cắt ổ khóa xe nhưng do không có tiền nên anh R không cắt. Sau đó T để chiếc xe trộm cắp được tại nhà anh R. Quá trình điều tra, xác minh anh R không biết đó là xe do Lương Văn T trộm cắp mà có vì vậy Cơ quan điều tra không khởi tố là có căn cứ.

Về dân sự: Chiếc xe đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt. Tuy nhiên trong quá trình điều tra họ không có yêu cầu gì nên miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS.

Tuyên bố bị cáo Lƣơng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Văn T 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ