vanban.org

Bản án 50/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Nh với ông Diệp Tấn S. Giấy chứng nhận kết hôn số 207 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hoà Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho Võ Thị Nh và Diệp Tấn S ngày 02 tháng 11 năm 2010 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-4-2022
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Hoàng Mai

2. Bà Nguyễn Thị Xuân Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Nh, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, ấp M, xã MHH, thành phố LX, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Diệp Tấn S, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, ấp M, xã MHH, thành phố LX, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 6 năm 2021 và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của bà Võ Thị Nh thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà và ông Diệp Tấn S sau thời gian tìm hiểu cả hai đã đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa Hưng vào ngày 02/11/2010. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông S không quan tâm chăm sóc gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, thậm chí còn xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Cả hai đã ly thân hơn một năm nay. Do cuộc hôn nhân của cả hai không còn hạnh phúc nên bà Nh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Bà Nh yêu cầu ly hôn với ông S;

- Về con chung: Bà Nh và ông S có hai con chung: Diệp Tấn H, sinh ngày 21/01/2011 và Diệp Thanh Tr, sinh ngày 22/12/2016. Khi ly hôn bà Nh yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Diệp Tấn S không có văn bản trình bày ý kiến, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; cũng như không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.

Tại phiên tòa ngày 21 tháng 4 năm 2022: Bà Võ Thị Nh vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Diệp Tấn S vắng mặt không lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nh với ông S.

+ Về con chung: Giao con chung Diệp Tấn H, sinh ngày 21/01/2011 và Diệp Thanh Tr, sinh ngày 22/12/2016 cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Do bà Nh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

+ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nh phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nh khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn với ông S. Ông S có nơi cư trú tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Bà Nh vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ông S được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a và b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Nh, ông S.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Nh và ông S tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa Hưng vào ngày 02/11/2010. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà Nh yêu cầu ly hôn với ông S. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông S không quan tâm chăm sóc gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Cả hai đã ly thân hơn một năm nay.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân giữa bà Nh và ông S; ông, bà lại không thực hiện các nghĩa vụ này. Quá trình giải quyết vụ án, ông S không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không tham dự các buổi hòa giải, không tham dự phiên tòa, không đưa ra được giải pháp hàn gắn hôn nhân giữa ông, bà. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông S. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nh với ông S.

Về con chung: Bà Nh trình bày ông, bà có hai con chung là cháu Diệp Tấn H, sinh ngày 21/01/2011 và Diệp Thanh Tr, sinh ngày 22/12/2016. Hiện bà Nh đang là người trực tiếp chăm sóc hai con. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Do ông S không có văn bản thể hiện yêu cầu được nuôi dưỡng con chung hay tranh chấp việc nuôi con chung với bà Nh. Xét hiện con chung đang có cuộc sống ổn định với bà Nh nên căn cứ vào nguyện vọng, quyền lợi về mọi mặt của con chung Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà Nh phải tạo điều kiện cho ông S trong việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Nh không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nh phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 186, điểm a và b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Điểm a Khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Nh với ông Diệp Tấn S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 207 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hoà Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho Võ Thị Nh và Diệp Tấn S ngày 02 tháng 11 năm 2010 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung: Diệp Tấn H, sinh ngày 21/01/2011 và Diệp Thanh Tr, sinh ngày 22/12/2016 giao cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn.

Bà Nh phải tạo điều kiện cho ông S trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3/ Về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Nh phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000922 ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Bà Nh đã nộp đủ.

5/ Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Nh, ông Diệp Tấn S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ