- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 8 - 2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Nhì.
Ông Trần Hồng Ứng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 85/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Võ Thị Ng; Sinh năm: 1989. Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng. Hiện nay đang tạm trú: ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Dương Sơn Ph; Sinh năm: 1990; Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 02 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Võ Thị Ng trình bày:
Về hôn nhân: Bà Võ Thị Ng và ông Dương Sơn Ph tự nguyện kết hôn vào năm 2011, đến ngày 18/11/2014 mới đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71, ngày 18/11/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Ng và ông Ph sống ly thân từ tháng 01/2021 cho đến nay. Nay bà Ng xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Ph không còn, nên bà Ng yêu cầu ly hôn với ông Ph; Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Ng và ông Ph có 01 người con chung tên là Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011. Hiện nay, cháu Tr đang sống với ông Ph. Bà Ng yêu cầu giao con chung là Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011 cho ông Ph nuôi dưỡng đến khi thành niên, bà Ng sẽ không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà Ng và ông Ph không có tài sản chung và không có nợ chung, nên bà Ng không có yêu cầu gì.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, bị đơn là ông Dương Sơn Ph trình bày: Về hôn nhân: Ông Ph thống nhất ly hôn với bà Ng; Về con chung: Ông Ph thống nhất nuôi con chung là Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011 cho đến khi thành niên, không yêu cầu bà Ng phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà Ng và ông Ph không có tài sản chung và không có nợ chung, nên ông Ph không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, xử giao cháu Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011 cho ông Ph nuôi dưỡng đến khi thành niên; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Dương Sơn Ph là bị đơn trong vụ án, ông Ph đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Ph.
Đối với nguyên đơn bà Võ Thị Ng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Ng.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Võ Thị Ng và ông Dương Sơn Ph là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ năm 2021, hai bên đã sống ly thân. Từ khi ly thân cho đến nay ông bà không có gặp nhau để bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện ngày 24 tháng 02 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Ng yêu cầu được ly hôn với ông Ph là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Ng. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Ng được ly hôn với ông Ph.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Ng và ông Ph có 01 người con chung tên là Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011. Hiện nay, cháu Tr đang sống chung với ông Ph. Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 02 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Ng yêu cầu giao con chung tên là Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011 cho ông Ph nuôi dưỡng đến khi thành niên, không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 7 năm 2022, bị đơn là ông Dương Sơn Ph trình bày: Ông Ph thống nhất nuôi con chung là Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011 cho đến khi thành niên, không yêu cầu bà Ng phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa bà Ng và ông Ph đã thỏa thuận được việc nuôi con. Do đó, cần xử giao cháu Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011 cho ông Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Tr thành niên, do ông Ph không yêu cầu bà Ng phải cấp dưỡng nuôi con, nên bà Ng không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho bà Ng, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ng và ông Ph không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ng phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông Ph không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ng.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Võ Thị Ng được ly hôn với ông Dương Sơn Ph.
2. Về con chung: Giao cháu Dương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/01/2011 cho ông Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Tr thành niên. Bà Ng không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho bà Ng, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ng và ông Ph không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Ng phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà Ng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002090 ngày 04 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Ng đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Dương Sơn Ph không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Ng và ông Dương Sơn Ph có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Trần Đề; - Chi cục THADS huyện Trần Đề; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |